- Cá hương (QCVN)
- 3 đến dưới 5 cm, 1 đến dưới 4 g
- Cá giống (QCVN)
- từ 5 cm, 4 g
- Độ mặn tối ưu
- 25–35‰
- Nhiệt độ tối ưu
- 24–27 °C
Thức ăn theo cỡ
Bảng SRAC 0324 cho ao ở Hoa Kỳ. Chuyển từ bột sang mảnh trong ao: mỗi ngày thay 10%, từ ngày 25 tới ngày 35.
| Cỡ cá | Dạng thức ăn | Đạm | Béo | Khẩu phần |
|---|---|---|---|---|
| 2,5–7,6 cm | Mảnh số 2 (1,0–1,3 mm) | 45–50% | 15–17% | 5% thân/ngày |
| 7,6–15 cm | Mảnh số 3 hoặc viên 2,3–3,2 mm | 45–50% | 15–17% | 5% thân/ngày |
| 15–20 cm | Viên 2,3–6,4 mm | 40–45% | 13–16% | 4% thân/ngày |
Nước và thuần hóa
Nhiệt độ
Tốt nhất 24–27 °C, nuôi được 18–31 °C. Dưới 20 °C cá chậm lớn hẳn, trên 29 °C tỉ lệ sống thường giảm.
Độ mặn
Tốt nhất 25–35‰, có thể xuống 10‰ nếu đổi chậm.
Thời gian thuần hóa
Ít nhất 1 giờ cho mỗi 5,6 °C chênh, mỗi 1 đơn vị pH hoặc mỗi 10‰ độ mặn. Cá chịu giảm nhẹ nhiệt độ, độ mặn tốt hơn là tăng.
Ăn nhau, bệnh, vận chuyển
Ăn thịt lẫn nhau
Bài ở Nha Trang ghi cá ăn nhau khi đạt 10–20 mm. Mật độ càng cao càng phải phân cỡ thường xuyên. Tài liệu đã đọc chưa ghi khoảng ngày cố định.
Amyloodinium
SRAC xếp cá hồng Mỹ vào nhóm rủi ro cao: bệnh đến gấp, lan rất nhanh. Cần xử lý nhiều lần hoặc kéo dài trên 10–14 ngày, hạ độ mặn có thể không hiệu quả.
Vận chuyển
Nhịn ăn ít nhất 1 ngày, nên 2 ngày. Nước vận chuyển khoảng 10‰, 20–24 °C, tránh dưới 15 °C và trên 27 °C. Cá dưới 7,6 cm không dùng máy khuấy vì cá chết khi va vào.
Mật độ
Thí nghiệm bể 60 lít ở Nha Trang: cá 21,9 mm, 2–4 con/lít, sống 75–88,75% sau 28 ngày, đạt 53,5–55,7 mm. Đây là bể thí nghiệm, chưa phải mật độ cho trại. Quảng Ninh ghi thả lồng từ 10 cm, 25 con/m³.
Hình bệnh trên cá hồng mỹ
Hình từ các bài báo khoa học mở, ghi nguồn và cỡ cá dưới mỗi hình. Hình giúp nhận biết, không thay cho chẩn đoán.

Không rõ cỡNhiễm tự nhiên
Cỡ cá: bài không ghiMẫu cá có dấu hiệu xuất huyết (mũi tên) trong nghiên cứu của ĐH Huế.Nguồn: Yen và cs. (2021), AMB Express 11, CC BY 4.0. Đã đổi cỡ.
Đang nuôi thịtNhiễm tự nhiên
Cỡ cá: khoảng 200 gCá nuôi ở Địa Trung Hải, nhiễm Mycobacterium pseudoshottsii.Nguồn: Mugetti và cs. (2020), Pathogens 9(8), CC BY 4.0. Đã đổi cỡ.
