Giờ làm việc: T2 - T6 | 08:00 - 17:00HOTLINE: 0867 95 7568
Cỡ chữ
Thức ăn lên men cho thủy sản: tổng quan 2026 nói gì và còn thiếu gì, nhất là với tôm
Tin tức

Thức ăn lên men cho thủy sản: tổng quan 2026 nói gì và còn thiếu gì, nhất là với tôm

Tổng quan 2026 trên Microorganisms về thức ăn lên men cho thủy sản: lợi ích, yếu tố quyết định chất lượng (chủng, nhiệt độ, thời gian, độ ẩm), và các khoảng trống: hơn 60% số liệu là trên cá, giáp xác rất ít, thử nghiệm ngắn, thiếu dữ liệu về rủi ro lên men hỏng.

23 tháng 10, 2026
Bấm để nghe tóm tắt bằng giọng đọc AI · nghe khoảng 2 phút 34 giây

Tóm lại: một bài tổng quan năm 2026 trên tạp chí Microorganisms tổng hợp những gì đã biết về thức ăn lên men cho thủy sản. Bài vừa nêu lợi ích, vừa nói thẳng các hạn chế: số liệu chủ yếu trên cá, giáp xác như tôm, cua còn rất ít, và hầu như chưa ai nghiên cứu rủi ro khi lên men hỏng.

Thức ăn lên men là gì, vì sao được quan tâm

Thức ăn lên men được làm bằng cách cho vi sinh vật lên men nguyên liệu hoặc cả công thức thức ăn. Các tác giả nêu ba lợi ích chính: thức ăn ngon miệng hơn, nên ăn nhiều hơn; đạm và tinh bột lớn được cắt thành phân tử nhỏ như peptide, giúp dễ tiêu và hấp thu; và phân hủy bớt chất kháng dinh dưỡng. Nhờ vậy lên men được xem là cách thay một phần bột cá trong bối cảnh bột cá khan và đắt.

Hình 1. Lợi ích của thức ăn lên men đối với động vật thủy sản.
Hình 1. Lợi ích của thức ăn lên men đối với động vật thủy sản. Hình: Sun và cs., Microorganisms 2026;14(2):416, CC BY 4.0. Hình được Thần Vương dịch toàn bộ chữ sang tiếng Việt từ hình gốc; giữ nội dung và các mũi tên tăng/giảm.

Theo hình, lợi ích gom vào bốn nhóm: hiệu quả thức ăn (tiêu hóa sẵn, dễ tiêu hơn, tính chất vật lý tốt hơn, có chất tạo hương vị và enzym), chất lượng sản phẩm, chức năng miễn dịch (đạm lớn giảm, phân tử nhỏ tăng, năng lực chống oxy hóa tăng) và sức khỏe đường ruột.

Các nhóm thức ăn lên men

Hình 2. Các nhóm thức ăn lên men thường gặp.
Hình 2. Các nhóm thức ăn lên men thường gặp. Hình: Sun và cs., Microorganisms 2026;14(2):416, CC BY 4.0. Hình được Thần Vương dịch toàn bộ chữ sang tiếng Việt từ hình gốc; giữ nội dung và các mũi tên tăng/giảm.

Bài tổng quan chia thức ăn lên men thành ba nhóm: thức ăn đạm (đạm thực vật như bột đậu nành, bột bông, bột cải, bột đậu phộng; đạm động vật như bột thịt xương, bột máu, bột lông vũ, đạm côn trùng; đạm vi sinh như nấm men, vi khuẩn, vi tảo), thức ăn thô (thức ăn ủ chua) và thức ăn giàu năng lượng (ngũ cốc, cám, củ, rễ).

Bốn yếu tố quyết định chất lượng

Theo bài tổng quan, theo thứ tự quan trọng:

Yếu tốÝ chính
Chủng vi sinhĐược xem là “linh hồn” của lên men. Vi khuẩn lactic tạo axit, hạ pH, bảo quản thức ăn. Nấm men cho hương vị và đặc tính probiotic. Bacillus tiết nhiều enzym (protease, amylase, cellulase) phân giải mạnh. Nấm mốc phân giải chất xơ. Thức ăn hiện đại hay dùng tổ hợp nhiều chủng.
Nhiệt độCác nghiên cứu được tổng hợp lên men trong khoảng 25–40 °C.
Thời gianKhoảng 2–10 ngày trong các nghiên cứu được tổng hợp; lên men quá mức làm mất dưỡng chất.
Độ ẩmMột trong bốn thông số chính, nhưng nhiều nghiên cứu không báo cáo.

Tôm có thể hưởng lợi khác cá

Các tác giả giải thích: cá có dạ dày tiết axit mạnh và ruột dài, nên chịu được axit hữu cơ và đạm đã tiêu sẵn. Giáp xác như tôm có cấu trúc dạ dày đơn giản hơn và ruột ngắn, nên phụ thuộc nhiều vào enzym từ bên ngoài để phân giải trước thức ăn. Vì thế họ cho rằng thức ăn lên men bằng Bacillus, giàu protease và amylase, có khả năng cải thiện FCR của tôm rõ hơn. Đây là giả thuyết của bài tổng quan, chưa phải kết luận.

Những gì còn thiếu

  • Thiên lệch loài: hơn 60% số liệu là trên cá (cá rô phi nhiều nhất), còn tôm, cua và nhuyễn thể rất ít.
  • Thiết kế nghiên cứu yếu: nhiều nghiên cứu dưới 30 con mỗi nhóm; nhiều nghiên cứu không báo cáo độ ẩm, số lượng vi sinh sống khi lên men; một số chỉ có nhóm đối chứng trống, không so với nguyên liệu chưa lên men hay chủng khác.
  • Kết quả không đồng nhất: cùng là đậu nành lên men, FCR cá chim cải thiện từ 2,35 xuống 2,19, nhưng cá chẽm barramundi chỉ từ 1,47 xuống 1,46.
  • Thời gian ngắn: đa số chỉ 4–12 tuần, chưa đánh giá cả chu kỳ nuôi.
  • Rủi ro ít được nghiên cứu: lên men hỏng, nhiễm khuẩn, tích tụ độc tố nấm mốc, mất dưỡng chất vì lên men quá mức gần như chưa có số liệu. Tác giả cũng nêu khó khăn khi sản xuất quy mô công nghiệp.
Hai thử nghiệm mới trên giáp xác cho thấy đúng sự không đồng nhất đó. Trên tôm thẻ, hỗn hợp thức ăn lên men giúp sống nhiều hơn nhưng lớn chậm hơn. Trên cua lông Trung Quốc, chủng L. plantarum giúp lớn nhanh hơn, còn khẩu phần lên men không cấy men giống thì không khác nhóm thường.

Bà con cần biết

  • "Lên men" không phải là một sản phẩm duy nhất. Chủng vi sinh, thời gian, độ ẩm khác nhau cho sản phẩm khác nhau, và hiệu quả khác nhau.
  • Với tôm, bằng chứng còn ít. Đừng kỳ vọng kết quả như những gì báo cáo trên cá.
  • Tự lên men thức ăn tại trại cần quy trình sạch và kiểm soát. Nếu lên men hỏng, rủi ro (nhiễm khuẩn, độc tố) có thể lớn hơn lợi ích.
  • Nếu chỉ cần bổ sung nấm men và vi sinh sống cho thức ăn, có thể trộn hoặc áo trực tiếp lên thức ăn thành phẩm.

Nguồn

  • Sun H., Nie L., Huang M., Zou W., Hu Y., Luo X., You W., Ke C. Fermentation Technology in Aquafeeds: A Review. Microorganisms, 2026;14(2):416. DOI 10.3390/microorganisms14020416. Toàn văn mở, giấy phép CC BY 4.0.
  • Bài viết là bản tóm lược và diễn giải bằng tiếng Việt của Thần Vương; số liệu lấy từ bài gốc. Hình 1 và Hình 2 được dịch toàn bộ chữ sang tiếng Việt từ hình gốc trên PMC; hình đã được chỉnh sửa về ngôn ngữ. Bản tiếng Anh giữ nguyên hình hiện có. Nguồn hình: Sun và cs., Microorganisms 2026;14(2):416, CC BY 4.0. Phần "Bà con cần biết" là ý kiến biên tập.
Tin khác

Các cập nhật liên quan

Thức ăn lên men cho tôm thẻ: tỷ lệ sống tăng từ 65% lên 88% sau 56 ngày; tôm lớn chậm hơn, tác giả cho là do thức ăn chưa bền nước
23 tháng 10, 2026

Thức ăn lên men cho tôm thẻ: tỷ lệ sống tăng từ 65% lên 88% sau 56 ngày; tôm lớn chậm hơn, tác giả cho là do thức ăn chưa bền nước

Nhóm Trung Quốc lên men cả công thức thức ăn ít bột cá bằng 5 chủng vi sinh, trộn 2 phần với 3 phần thức ăn thương phẩm, nuôi khoảng 100.000 tôm thẻ 56 ngày: tỷ lệ sống tăng từ 65,5% lên 88,2% và nước ổn định; tôm nhẹ hơn (1,85 g so với 3,14 g), tác giả cho là do thức ăn chưa bền nước.

Khẩu phần lên men bằng vi khuẩn lactic phân lập từ cua: cua lớn nhanh hơn, dùng thức ăn hiệu quả hơn sau 12 tuần
23 tháng 10, 2026

Khẩu phần lên men bằng vi khuẩn lactic phân lập từ cua: cua lớn nhanh hơn, dùng thức ăn hiệu quả hơn sau 12 tuần

Nghiên cứu 2026 trên cua lông Trung Quốc: lên men cả khẩu phần bằng vi khuẩn lactic phân lập từ chính cua. Sau 12 tuần, nhóm L. plantarum nặng 207,6 g so với 184,5 g và FCR 2,61 so với 3,29; khẩu phần lên men nhưng không cấy men giống thì không khác nhóm thường.

Hỏi Thần Vương

Trợ lý kỹ thuật nuôi tôm & thủy sản

Xin chào Anh/Chị 👋

Mô tả vấn đề ao nuôi hoặc chọn câu hỏi bên dưới.