Tóm lại: nghiên cứu năm 2025 trên Animal Nutrition không lên men một nguyên liệu lẻ mà lên men cả công thức thức ăn, rồi trộn với thức ăn thương phẩm để nuôi tôm thẻ ở quy mô gần thực tế. Thức ăn lên men giúp tôm sống nhiều hơn rõ rệt (từ 65,5% lên 88,2%) và giữ nước ổn định; điểm cần cải thiện là tôm lớn chậm hơn, mà tác giả cho rằng do thức ăn chưa bền nước. Bài này trình bày cả hai mặt.
Thức ăn lên men được làm thế nào
Các tác giả trước hết chọn tổ hợp vi sinh. Tổ hợp tốt nhất gồm năm chủng: Enterococcus faecalis, Lactobacillus plantarum, Bacillus subtilis, Saccharomyces cerevisiae và nấm mốc Aspergillus niger, được chọn vì làm tăng protein tan trong axit (peptide và đạm nhỏ hơn).
- Công thức lên men: bột cá chỉ 15%, bột đậu nành 45%, bột mầm ngô 25%, cám mì 13%, premix 2% (đạm khoảng 42%). Thức ăn thương phẩm đối chứng có 30% bột cá.
- Cách lên men: trộn với 40–50% nước, hấp tiệt trùng 121 °C trong 30 phút, để nguội đến khoảng 25 °C rồi cấy vi sinh; 2 ngày có oxy, sau đó 12 ngày kỵ khí, tổng cộng 14 ngày.
- Không ép viên sau khi lên men, để giữ vi sinh sống và các chất kém chịu nhiệt. Protein tan trong axit của thức ăn lên men là 12,31%, so với 0,29% ở thức ăn thương phẩm.
Thử nghiệm nuôi
Thử nghiệm kéo dài 56 ngày, khoảng 100.000 con tôm, bắt đầu từ cỡ 0,12 g, trong các bể nước 30 m³ mà tác giả mô tả là gần với điều kiện sản xuất. Nhóm đối chứng ăn thức ăn thương phẩm không lên men (30% bột cá). Nhóm thử ăn hỗn hợp 2 phần thức ăn lên men : 3 phần thức ăn thương phẩm (tính theo vật chất khô).

Kết quả
| Chỉ tiêu | Thức ăn thường | Hỗn hợp lên men | Ý nghĩa |
|---|---|---|---|
| Tỷ lệ sống | 65,48% | 88,16% | P = 0,002 |
| Sản lượng thu mỗi bể | 52,55 kg | 41,65 kg | P = 0,032 |
| Khối lượng cuối | 3,14 g | 1,85 g | P = 0,003 |
| FCR | 0,96 | 1,54 | P = 0,006 |
| Lượng ăn mỗi con | 2,90 g | 2,67 g | không khác biệt |
Về môi trường nước, nhóm ăn thức ăn lên men không làm amoni hay nitrit tăng, thậm chí thấp hơn ở một số thời điểm; pH và độ kiềm cao hơn ở vài thời điểm. Hai loài Vibrio viridis và Vibrio flavus trong nước không tăng, và giảm ở một số mốc.
Về đường ruột, nhóm lên men có độ đa dạng vi sinh thấp hơn rõ (P < 0,001), nhóm Proteobacteria tăng và Bacteroidetes giảm, tỷ lệ Firmicutes/Bacteroidetes tăng (P = 0,016). Bài báo không kết luận mức đa dạng thấp hơn là tốt hay xấu.
Bà con cần biết
- Lên men giúp tăng tỷ lệ sống rõ rệt trong thử nghiệm này, nhưng cần thức ăn bền nước để tôm không chậm lớn; tăng trưởng và FCR kém hơn trong điều kiện thử nghiệm.
- Chưa thể kết luận lên men tốt hơn về mọi mặt.
- Đây là một thử nghiệm trên tôm 0,12 g và công thức riêng. Không suy ra được cho mọi loại thức ăn lên men, mọi cỡ tôm hay mọi chủng vi sinh.
- Lên men là quy trình cần kiểm soát (vệ sinh, thời gian, độ ẩm). Làm tại trại mà không kiểm soát có thể hỏng và kéo theo rủi ro khác.
- Nếu muốn bổ sung nấm men và vi sinh mà không tự lên men, có thể trộn hoặc áo trực tiếp lên thức ăn thành phẩm.
Nguồn
- Cheng Y., Fan L., Liu Y., Su K., Xu G. Integrated commercial and low-fishmeal fermented feed boosts survival and modulates intestinal microbiota in pacific white shrimp (Litopenaeus vannamei). Animal Nutrition, 2025. DOI 10.1016/j.aninu.2025.01.011. Toàn văn mở, giấy phép CC BY-NC-ND 4.0.
- Bài viết là bản tóm lược và diễn giải bằng tiếng Việt của Thần Vương; số liệu lấy từ bài gốc, hình do Thần Vương vẽ lại từ số liệu, không sao chép hình và bảng của bài gốc (riêng bài tổng quan CC BY: hai hình lấy từ hình gốc, đã dịch sang tiếng Việt và có ghi nguồn; bản tiếng Anh giữ nguyên hình gốc). Phần "Bà con cần biết" là ý kiến biên tập.



