Tóm tắt cho bà con
- Nuôi thử 8 tuần trong bể: giảm bột cá từ 20% xuống 10% làm tôm thẻ ăn ít hơn và lớn chậm hơn.
- Thêm 2% đạm thủy phân từ phụ phẩm tôm hùm đất: tôm ăn nhiều hơn, nặng 8,83 g so với 8,06 g, hệ số thức ăn 1,28 so với 1,33 – ngang đối chứng.
- Hai men gan tụy giảm; gene điều khiển thèm ăn và vi khuẩn ruột cũng thay đổi.
- Tỷ lệ sống không khác. Mới thử một mức 2%, trong bể, độ mặn 8–10‰.

Thức ăn tôm ngày càng giảm bột cá vì giá biến động, nguồn cung bấp bênh. Phần bớt đi thường được thay bằng đạm thực vật như khô đậu nành. Theo bài báo, thay nhiều dễ làm tôm ăn ít và lớn chậm. Nhóm nghiên cứu ở Đại học Nông nghiệp Nam Kinh (Trung Quốc) thử thêm đạm thủy phân vào thức ăn ít bột cá cho tôm thẻ chân trắng. Bài đăng trên tạp chí Metabolites ngày 27/3/2026.
1. Đạm thủy phân từ phụ phẩm tôm hùm đất là gì?
Tôm hùm đất (Procambarus clarkii) được nuôi nhiều ở Trung Quốc. Đầu, càng và vỏ chiếm khoảng 70% khối lượng con tôm, là phần phụ phẩm. Nhóm tác giả dùng enzyme thủy phân phụ phẩm này, tạo ra đạm thủy phân từ phụ phẩm tôm hùm đất (CBPH). Theo bài báo, đạm thủy phân giàu đoạn đạm ngắn và axit amin tự do, dễ tan, giúp tôm nhận ra mồi và ăn nhiều hơn.
Nguyên liệu này do nhóm tác giả tự làm. Bài báo không nêu loại enzyme, cách thủy phân hay thành phần dinh dưỡng của nó, nên kết quả chỉ nói về đúng nguyên liệu này.
Mức 2% được chọn qua các lần thử công thức trước đó. Nghiên cứu chỉ so sánh có và không có đạm thủy phân ở mức này, không thử nhiều liều để tìm mức tốt nhất.
2. Ba khẩu phần và cách nuôi
Ba khẩu phần có đạm và béo tương đương: khẩu phần đối chứng (20% bột cá), khẩu phần ít bột cá (10%) và khẩu phần ít bột cá có thêm 2% đạm thủy phân (gọi gọn là nhóm có đạm thủy phân). Phần bột cá bớt đi được bù chủ yếu bằng đạm đậu nành (xem bảng). Khẩu phần thứ ba chỉ bớt 2% bột mì để thêm 2% đạm thủy phân.
| Chỉ tiêu | Đối chứng | Ít bột cá | Ít bột cá + đạm thủy phân |
|---|---|---|---|
| Bột cá | 20 | 10 | 10 |
| Khô đậu nành | 23 | 27 | 27 |
| Đạm đậu nành cô đặc | 3 | 9 | 9 |
| Bột mì | 24,67 | 24,05 | 22,05 |
| Đạm thủy phân | 0 | 0 | 2 |
| Đạm thô (phân tích) | 39,53 | 39,16 | 39,27 |
| Béo thô (phân tích) | 7,61 | 7,34 | 7,45 |
Có 360 tôm giống khỏe, nặng trung bình 0,46 g, được chia ngẫu nhiên vào 12 bể composite 300 lít, mỗi khẩu phần 4 bể. Tôm được cho ăn no 3 lần mỗi ngày (8 giờ, 14 giờ, 20 giờ) trong 8 tuần. Thức ăn thừa được hút ra sau 1 giờ để tính lượng ăn.
Nước giữ ở 28–30°C, độ mặn 8–10‰, pH 7,8–8,0, oxy hòa tan trên 7 mg/lít.
3. Tôm ăn nhiều hơn, lớn lại ngang đối chứng
| Chỉ tiêu | Đối chứng | Ít bột cá | Ít bột cá + đạm thủy phân |
|---|---|---|---|
| Khối lượng cuối (g/con) | 9,02 ± 0,28 | 8,06 ± 0,32 | 8,83 ± 0,25 |
| Lượng ăn (g/con) | 10,71 ± 0,21 | 10,06 ± 0,25 | 10,69 ± 0,20 |
| Hệ số thức ăn | 1,25 ± 0,02 | 1,33 ± 0,03 | 1,28 ± 0,02 |
| Tỷ lệ sống (%) | 96,67 ± 3,85 | 91,67 ± 4,30 | 90,83 ± 3,19 |
Giảm bột cá từ 20% xuống 10% làm tôm ăn ít hơn, lớn chậm hơn và tốn thức ăn hơn (8,06 g so với 9,02 g ở đối chứng).
Thêm 2% đạm thủy phân, tôm ăn nhiều hơn và nặng 8,83 g, hơn nhóm ít bột cá khoảng 10%. Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) giảm từ 1,33 xuống 1,28. Các khác biệt này có ý nghĩa thống kê.
Các chỉ tiêu này của nhóm có đạm thủy phân không khác đối chứng. Nghĩa là đạm thủy phân bù lại phần hao hụt do giảm bột cá, chưa cho thấy tốt hơn khẩu phần đối chứng.
Tỷ lệ sống, độ mập và tỷ lệ gan tụy trên thân khác nhau không có ý nghĩa giữa ba nhóm, nên chưa thể nói đạm thủy phân giúp tôm sống nhiều hơn.
4. Thân tôm và máu tôm
Đạm và mỡ toàn thân tôm ở nhóm ít bột cá thấp hơn hai nhóm còn lại. Đạm toàn thân (tính trên khối lượng tươi) là 16,98% ở đối chứng, 16,36% ở nhóm ít bột cá và 17,00% ở nhóm có đạm thủy phân.
Trong máu tôm, nhóm ít bột cá có hai men gan tụy thường dùng để đánh giá tổn thương (AST, ALT) cao nhất (303,75 và 252,75 U/L). Nhóm có đạm thủy phân thấp nhất (209,00 và 178,75 U/L), thấp hơn cả đối chứng.
So với nhóm ít bột cá, nhóm có đạm thủy phân có đạm tổng trong máu cao hơn và đường huyết thấp hơn (1,66 so với 2,28 mmol/L). Mỡ máu không khác.
Nhóm tác giả cho rằng thức ăn ít bột cá gây áp lực lên trao đổi chất và gan tụy, còn đạm thủy phân làm nhẹ áp lực đó. Đây là chỉ số máu, không phải xét nghiệm bệnh; nghiên cứu không xem mô gan tụy, không thử cảm nhiễm mầm bệnh.
5. Gene điều khiển cảm giác thèm ăn trong ruột
Nhóm tác giả đo năm gene điều khiển cảm giác thèm ăn trong ruột tôm. So với đối chứng, thức ăn ít bột cá làm ba gene giảm thèm ăn tăng lên và một gene kích thích thèm ăn giảm xuống. Thêm đạm thủy phân thì ngược lại, so với nhóm ít bột cá. Gene thứ năm, liên quan đến cảm giác no, không khác giữa ba nhóm.

Nhóm tác giả xem đây là cơ sở giải thích vì sao tôm ăn nhiều hơn; đây mới là số đo mức hoạt động gene, chỉ gợi ý về cơ chế.
6. Vi khuẩn đường ruột
Vi khuẩn ruột được nhận diện bằng giải trình tự gene (16S rRNA). Kết quả được tính theo hai cách ước tính số loại vi khuẩn (ACE, Chao1) và hai chỉ số độ đa dạng (Shannon, Simpson).
| Chỉ tiêu | Đối chứng | Ít bột cá | Ít bột cá + đạm thủy phân |
|---|---|---|---|
| Số loại vi khuẩn (ước tính 1) | 326,52 | 283,66 | 398,68 |
| Số loại vi khuẩn (ước tính 2) | 332,06 | 284,14 | 400,11 |
| Độ đa dạng (chỉ số 1) | 5,87 | 4,62 | 4,63 |
| Độ đa dạng (chỉ số 2) | 0,97 | 0,92 | 0,91 |
Số loại vi khuẩn ở nhóm có đạm thủy phân cao hơn nhóm ít bột cá; đối chứng không khác có ý nghĩa với cả hai nhóm. Còn độ đa dạng của hai nhóm ít bột cá (có và không có đạm thủy phân) như nhau, đều thấp hơn đối chứng. Tức là đạm thủy phân làm tăng số loại vi khuẩn, nhưng chưa đưa độ đa dạng về bằng đối chứng.

Nhóm tác giả tự nêu giới hạn: chưa kiểm chứng trực tiếp vai trò của các thay đổi vi khuẩn này đối với tôm.
7. Những điều bà con cần lưu ý
Nghiên cứu chỉ thử một mức 2%, một loại đạm thủy phân tự làm, 8 tuần trong bể. Chưa có liều tối ưu, chưa tính hiệu quả kinh tế, chưa thử trong ao hay ở độ mặn khác.
Mức 2% nghĩa là 20 g đạm thủy phân trong mỗi kg thức ăn, đã được tính vào công thức thay cho 2% bột mì. Đây không phải hướng dẫn tự trộn thêm 20 g sản phẩm bất kỳ vào mỗi kg thức ăn đang dùng.
Khi đổi sang thức ăn ít bột cá, bà con nên theo dõi kỹ sức ăn và tốc độ lớn của tôm. Nếu chọn loại có đạm thủy phân, hãy hỏi rõ nguồn nguyên liệu và kết quả thử trên chính thức ăn đó.
Tác giả công bố không nhận tài trợ riêng và không có xung đột lợi ích.
Nguồn toàn văn
Ren, L., Gu, W., Sun, H., Fan, G. và Yang, X. (2026). Low-Fishmeal Dietary Supplementation with Crayfish By-Product Protein Hydrolysate Affects Growth Performance, Appetite-Related Metabolic Signaling and Intestinal Microbiota of Pacific White Shrimp (Litopenaeus vannamei). Metabolites, 16(4), 221. Công bố ngày 27/3/2026. Bài gốc · Toàn văn PDF tiếng Anh. Nội dung và hình sử dụng theo CC BY 4.0.



