Tóm tắt cho bà con
- Thay bột đậu nành thường bằng loại ít đường khó tiêu hoặc loại xử lý men: không thấy tôm thẻ chậm lớn hơn đối chứng ở cả hai thí nghiệm.
- Bể nước xanh, 8 tuần: tôm đạt 19,46–20,87 g/con, chín khẩu phần ngang nhau.
- Bể nước trong, 5 tuần: thay 60–80% bằng loại ít đường khó tiêu, tôm đạt 8,44–8,45 g, đối chứng 7,49 g. Thay hết 100% không lớn thêm.
- Tôm ăn loại xử lý men có vi khuẩn ruột đa dạng hơn tôm ăn loại ít đường khó tiêu, nhưng chưa chứng minh tôm khỏe hơn.

Đổi bột đậu nành thường sang loại đậu nành cải tiến thì tôm thẻ lớn ra sao? Nhóm của Aakriti Khanal ở Đại học Auburn (Mỹ) công bố ngày 2/7/2026 hai thí nghiệm về câu hỏi này. Họ theo dõi tăng trưởng, hệ số thức ăn, lượng đạm và lân tôm giữ lại, cùng vi khuẩn đường ruột của tôm thẻ chân trắng.
1. Ba loại bột đậu nành, chín khẩu phần
Khẩu phần đối chứng dùng bột đậu nành thường (SBM), loại tách dầu bằng dung môi, làm nguồn đạm chính. Hai loại thay thế là bột đậu nành ít đường khó tiêu (LO-SBM), làm từ giống đậu nành chọn lọc, và bột đậu nành xử lý men (ET-SBM), tức đã xử lý bằng enzym.
Mỗi loại thay bột đậu nành thường ở bốn mức: 40, 60, 80 và 100%. Cộng đối chứng là chín khẩu phần. Theo thiết kế, mọi khẩu phần cùng 35% đạm và 8% chất béo. Khẩu phần đối chứng có 6% bột cá, 49,63% bột đậu nành thường và 7,5% đạm ngô cô đặc.
Tỷ lệ thay tính theo lượng đạm, không phải tỷ lệ trộn trong thức ăn. Hai loại cải tiến nhiều đạm hơn nên dùng ít hơn. Thay 100% thì loại ít đường khó tiêu chiếm 41,60% thức ăn, loại xử lý men 41,05%, thay cho 49,63% bột đậu nành thường.
| Loại bột | Đạm thô (%) |
|---|---|
| Đậu nành thường | 43,28 |
| Ít đường khó tiêu | 53,36 |
| Xử lý men | 61,56 |
2. Hai kiểu bể nuôi
- Bể nước xanh ngoài trời: 36 bể 800 lít, nước lấy từ ao tôm, mỗi ngày thay 5% để giữ thức ăn tự nhiên trong nước. Mỗi bể 30 con (khoảng 35 con/m²), tôm giống 0,29 g, nuôi 8 tuần, cho ăn 4 lần/ngày, mỗi khẩu phần 4 bể.
- Bể nước trong, tuần hoàn trong nhà: 44 bể kính 80 lít, mỗi bể 15 con (khoảng 83 con/m²), tôm giống 0,78 g, nuôi 5 tuần, mỗi khẩu phần 4–5 bể.
Cỡ giống, mật độ và thời gian nuôi khác nhau, nên không so trọng lượng tôm giữa hai kiểu bể. Vi khuẩn ruột chỉ được phân tích ở bể nước trong, ở ba nhóm: đối chứng, thay 100% loại ít đường khó tiêu và thay 100% loại xử lý men. Mẫu ruột được giải trình tự gen để nhận diện vi khuẩn.
3. Bể nước xanh: chín khẩu phần cho kết quả ngang nhau
Sau 8 tuần, tôm đạt 19,46–20,87 g/con. Trọng lượng, hệ số thức ăn (FCR) và tỷ lệ đạm giữ lại trong thân tôm không khác biệt rõ giữa chín khẩu phần. Hệ số thức ăn chỉ từ 1,00 đến 1,10. (Trong bài này, “khác biệt rõ” nghĩa là có ý nghĩa thống kê.)
Trong các chỉ tiêu nuôi, khác biệt rõ duy nhất là tỷ lệ lân (phospho) tôm giữ lại: mức thay 80% bằng loại ít đường khó tiêu đạt 29,30%, cao hơn đối chứng 25,35%.
Tỷ lệ sống từ 96,67% trở lên. Hai nhóm ghi 100,83%, vượt 100%; tác giả cho rằng có thể do tôm từ bể bên cạnh lọt sang. Vì vậy tỷ lệ sống ở bể này chỉ nên xem để tham khảo.
4. Bể nước trong: thay 60–80% loại ít đường khó tiêu, tôm lớn hơn
| Khẩu phần | Trọng lượng cuối (g/con) | Hệ số thức ăn | Lân giữ lại (%) |
|---|---|---|---|
| Đối chứng | 7,49 | 1,50 | 10,51 |
| Ít đường khó tiêu 40% | 7,99 | 1,29 | 10,39 |
| Ít đường khó tiêu 60% | 8,44 | 1,48 | 11,49 |
| Ít đường khó tiêu 80% | 8,45 | 1,46 | 14,02 |
| Ít đường khó tiêu 100% | 8,01 | 1,44 | 10,09 |
| Xử lý men 40% | 7,72 | 1,48 | 10,59 |
| Xử lý men 60% | 7,14 | 1,50 | 8,41 |
| Xử lý men 80% | 7,24 | 1,47 | 9,11 |
| Xử lý men 100% | 7,92 | 1,60 | 10,96 |
Thay 60% và 80% bằng loại ít đường khó tiêu, tôm đạt 8,44–8,45 g, lớn hơn rõ so với đối chứng 7,49 g. Thay hết 100% (8,01 g) không cho thêm lợi ích và chưa khác rõ so với đối chứng.
Hệ số thức ăn thấp nhất ở mức 40% (1,29), nhưng khác biệt giữa các khẩu phần chưa đủ chắc chắn về thống kê. Lân giữ lại cao nhất ở mức 80% (14,02%): khác rõ so với mức 100% (10,09%), nhưng chưa khác rõ so với đối chứng (10,51%).
Với loại xử lý men, mức thay 100% cho tôm 7,92 g, lớn hơn rõ so với đối chứng (7,49 g) và các mức 60–80% (7,14–7,24 g). Kết quả không tăng đều theo mức thay. Hệ số thức ăn và lân giữ lại của nhóm này không khác rõ giữa các mức.
Tỷ lệ sống ở bể nước trong từ 73,33% đến 89,33%, không khác rõ giữa các khẩu phần.
5. Vi khuẩn đường ruột
Ở cả ba nhóm, vi khuẩn chiếm nhiều nhất là ngành Proteobacteria: 69,49% ở đối chứng, 76,58% ở nhóm thay 100% loại ít đường khó tiêu và 67,26% ở nhóm thay 100% loại xử lý men. Thành phần vi khuẩn giữa ba nhóm không khác rõ. Đây là tỷ lệ của cả một ngành vi khuẩn lớn, vốn chiếm nhiều nhất trong ruột nhiều loài tôm, không phải tỷ lệ vi khuẩn gây bệnh.

| Nhóm | Chỉ số đa dạng (càng cao càng đa dạng) | Số loại vi khuẩn ghi nhận |
|---|---|---|
| Đối chứng | 5,34 | 296,71 |
| Ít đường khó tiêu 100% | 4,59 | 242,69 |
| Xử lý men 100% | 5,45 | 326,41 |
Tôm ăn loại xử lý men có vi khuẩn ruột đa dạng hơn và nhiều loại hơn rõ so với tôm ăn loại ít đường khó tiêu. Nhóm ít đường khó tiêu thấp nhất ở cả hai chỉ số. Tuy vậy, khi so tổng thể thành phần vi khuẩn giữa ba nhóm (Hình 2), mức khác nhau chưa có ý nghĩa thống kê.

6. Đọc kết quả thế nào cho đúng
- Tác giả kết luận: trong điều kiện thí nghiệm, thay bột đậu nành thường bằng hai loại này không gây hại cho tôm. Các khẩu phần đều được cân đối axit amin thiết yếu, nhất là lysin và methionin.
- Khác biệt về trọng lượng chỉ thấy ở bể nước trong. Ở bể nước xanh, các khẩu phần cho tôm lớn ngang nhau.
- Vi khuẩn ruột chỉ đo ở mức thay 100%, trong bể nước trong. Nghiên cứu không thử cho tôm nhiễm mầm bệnh, nên chưa thể nói vi khuẩn đa dạng hơn là tôm khỏe hơn hay chống bệnh tốt hơn.
- Đây là thí nghiệm trong bể, 5–8 tuần, chưa phải ao nuôi cả vụ.
Nguồn
Khanal, A. và cộng sự (2026). Effects of Different Soybean Protein Sources on Growth Performance, Feed Utilization Efficiency, and Gut Microbiota of Pacific White Shrimp (Litopenaeus vannamei) in Green Water and Clear Water Systems. Aquaculture Journal, 6(3), 25. Công bố ngày 2/7/2026. DOI: 10.3390/aquacj6030025 · Toàn văn PDF tiếng Anh. Bài và hình dùng theo giấy phép CC BY 4.0. Nghiên cứu được tài trợ một phần bởi Trạm Nông nghiệp Alabama, chương trình Hatch của Bộ Nông nghiệp Mỹ và Hội đồng Đậu nành Hoa Kỳ; tác giả công bố không có xung đột lợi ích.



