Tóm lại: nếu ruột tôm phân trắng thiếu những thứ mà ruột tôm khỏe có, thì bổ sung lại qua thức ăn có giúp tôm chống được phân trắng không? Nhóm Đại học Ninh Ba (Trung Quốc) thử hai cách: bốn chủng vi khuẩn có lợi lấy từ ruột tôm khỏe (công bố 2024) và hai chất chuyển hóa, axit pyruvic và glutamine (công bố 2026). Cả hai đều giúp tôm thẻ ít chết hơn hẳn khi bị ngâm hỗn hợp Vibrio gây phân trắng. Nhưng đây là kết quả bể 50 lít, cho ăn trước 14 ngày, chưa có thử nghiệm ao, và mô hình gây bệnh không có EHP.
Ý tưởng: trả lại cho ruột những gì tôm khỏe có
Bài thứ nhất cho thấy ruột tôm phân trắng mất cân bằng: một số loài Vibrio tăng mạnh, vi khuẩn có lợi giảm. Nhóm của giáo sư Xiong Jinbo (Đại học Ninh Ba) đặt câu hỏi ngược lại: tôm khỏe có gì trong ruột mà tôm phân trắng thiếu, và nếu bổ sung lại qua thức ăn thì tôm có chống được phân trắng không?

Hai thí nghiệm dùng cùng một mô hình gây bệnh: ngâm tôm trong hỗn hợp ba loài V. fluvialis, V. coralliilyticus, V. tubiashii, theo tỷ lệ 7 : 2 : 1 như tỷ lệ gặp trong ruột tôm phân trắng ở ao. Nhóm đã kiểm chứng hỗn hợp này làm tôm khỏe có dấu hiệu phân trắng và chết; chính các tác giả cũng nói chưa loại trừ được các mầm bệnh khác.
Thí nghiệm 1 (2024): bốn chủng vi khuẩn có lợi
- Chọn chủng: từ dữ liệu giải trình tự vi khuẩn ruột tôm, nhóm dựng mạng tương tác giữa các loài rồi mô phỏng để chọn bộ chủng đối kháng tốt nhất với ba loài Vibrio. Kết quả là bốn loài phân lập từ ruột tôm khỏe: Ruegeria lacuscaerulensis, Nioella nitratireducens, Bacillus subtilis và Streptomyces euryhalinus, trộn theo tỷ lệ 4 : 3 : 2 : 1.
- Thiết kế: 900 post tôm thẻ khỏe, 18 bể 50 lít, chia ba nhóm: không gây nhiễm; chỉ gây nhiễm; ăn vi khuẩn rồi gây nhiễm. Vi khuẩn trộn thức ăn 107 CFU/g thức ăn, lượng cho ăn 3% khối lượng thân, 2 lần/ngày, trong 14 ngày trước khi gây nhiễm. Gây nhiễm bằng cách ngâm hỗn hợp Vibrio 108 CFU/mL, theo dõi 14 ngày.
- Kết quả: sau 14 ngày, nhóm ăn vi khuẩn chết 5,2%, nhóm chỉ gây nhiễm chết 30,4%. Con chết đầu tiên ở nhóm ăn vi khuẩn xuất hiện ngày thứ 7, muộn hơn 4 ngày. Nhóm không gây nhiễm chết 10,7%, cao hơn nhóm ăn vi khuẩn; bài báo không giải thích điểm này.
- Trong ruột: ba loài Vibrio ít hơn; các gen giúp tế bào thành ruột liên kết chặt (như mucin) tăng; mạng vi khuẩn ruột ổn định hơn.
Thí nghiệm 2 (2026): axit pyruvic và glutamine
- Tìm chất: phân tích các chất chuyển hóa trong ruột tôm khỏe và tôm phân trắng lấy từ ao nhà màng ở Ninh Ba. Axit pyruvic và glutamine là hai chất "then chốt" giảm rõ ở tôm phân trắng; được trộn theo tỷ lệ 1 : 2 như trong ruột tôm khỏe.
- Thiết kế: 1.440 post tôm thẻ sạch bệnh (SPF), 24 bể 50 lít × 60 con, 6 bể mỗi nhóm, nước 27 °C. Bốn nhóm: đối chứng; chỉ bổ sung; bổ sung rồi gây nhiễm; chỉ gây nhiễm. Bổ sung qua thức ăn 14 ngày trước khi gây nhiễm; ngâm hỗn hợp Vibrio 107 CFU/mL, theo dõi 9 ngày.
- Kết quả: sau 9 ngày, nhóm bổ sung chết 12,7%, gần bằng nhóm không gây nhiễm (9,6%), còn nhóm chỉ gây nhiễm chết 45,2%. Con chết đầu tiên muộn hơn 2 ngày. Gan tụy giữ được cấu trúc, lông nhung ruột không bị ngắn đi như ở nhóm chỉ gây nhiễm. Ngày thứ 9, tôm nhóm bổ sung nặng hơn đối chứng 8,3%.
- Cơ chế được đề xuất: hai chất này làm tăng ba loài vi khuẩn có lợi (Ruegeria lacuscaerulensis, Bacillus subtilis, Nioella nitratireducens); các vi khuẩn này giữ mức lipoxin A4, một chất giúp dập phản ứng viêm, trong ruột và gan tụy. Cho tôm ăn riêng bộ ba vi khuẩn này (tỷ lệ 4 : 3 : 2) trong 14 ngày cũng giúp tôm sống nhiều hơn có ý nghĩa khi gây nhiễm; con số cụ thể chỉ có trên biểu đồ của bài báo.

Bằng chứng đang ở nấc nào?

Một tổng quan năm 2026 về các giải pháp điều chỉnh hệ vi sinh trong nuôi tôm (men vi sinh, prebiotic, chế phẩm sau lên men, cấy hệ vi sinh, quần xã vi khuẩn tổng hợp…) nhận xét: muốn đi tiếp, ngành phải chuyển từ hiệu quả trong phòng thí nghiệm sang kiểm chứng lặp lại được ở quy mô trại. Nhóm Ninh Ba cũng viết rằng thử nghiệm ngoài ao là bước cần làm tiếp.
Ngoài thực tế: bà con rút ra được gì
- Phòng trước, không phải chữa sau. Cả hai thí nghiệm cho ăn 14 ngày rồi mới gây bệnh. Không có số liệu nào cho thấy cách này cứu được tôm đã đi phân trắng.
- Liều duy nhất có trong bài: vi khuẩn có lợi 107 CFU/g thức ăn (tức 10 tỷ CFU cho mỗi kg thức ăn), cho ăn liên tục 14 ngày. Đây là liều bể thí nghiệm, chưa phải liều ao.
- Chủng quan trọng hơn tên loài. Bacillus subtilis có trong nhiều chế phẩm, nhưng hiệu quả trong thí nghiệm là của cả bộ chủng phân lập từ ruột tôm khỏe; chưa ai thử riêng B. subtilis với phân trắng. Khi chọn men vi sinh, nên hỏi rõ tên chủng, mật độ CFU trên mỗi gam và số đăng ký.
- Mô hình là Vibrio, không có EHP. Ở vùng nuôi có EHP, bài thứ nhất cho thấy dây phân trắng chủ yếu là bào tử EHP. Giữ hệ vi sinh ruột ổn định không thay được việc chọn post sạch EHP và chuẩn bị ao kỹ.
- Giữ ruột ổn định hằng ngày: thức ăn tốt, không cho ăn dư, quản lý đáy ao, chú ý những ngày nước nóng và khi nhiệt độ thay đổi đột ngột.
Hỏi nhanh
Có mua được bốn chủng vi khuẩn trong thí nghiệm không?
Đây là các chủng nhóm nghiên cứu phân lập từ ruột tôm khỏe; bài báo không nhắc tới sản phẩm thương mại nào. Bacillus subtilis có trong nhiều chế phẩm, nhưng mỗi chủng một khác, và hiệu quả trong thí nghiệm là của cả bộ bốn chủng.
Có nên tự trộn axit pyruvic và glutamine vào thức ăn?
Không nên. Bài báo không ghi hàm lượng hai chất trong thức ăn, tỷ lệ 1 : 2 còn cần đo lại chính xác, và chưa có thử nghiệm ao. Chưa có liều nào để áp dụng.
Vì sao phải cho ăn trước 14 ngày?
Trong cả hai thí nghiệm, tôm được ăn thức ăn bổ sung 14 ngày rồi mới gây bệnh. Chưa có số liệu cho thời gian ngắn hơn, và không có số liệu nào cho thấy cách này cứu được tôm đã đi phân trắng.
Kết quả này có dùng được cho ao có EHP không?
Chưa biết. Hai thí nghiệm gây bệnh bằng ba loài Vibrio trên tôm sạch bệnh, không có EHP. Ở vùng có EHP, phân trắng thường gắn với EHP nặng, nên vẫn phải chọn post sạch EHP và chuẩn bị ao kỹ.
Đọc thêm
- Khảo sát 110 trại tôm châu Á: 60% tôm có đường ruột yếu
- Bốn dạng butyrate cho tôm sú: Vibrio đường ruột giảm, chịu sốc nitrit tốt hơn
- Phân trắng, EHP và tảo: cần xác định vấn đề trước khi chọn sản phẩm
Nguồn
- Sha H., Lu J., Chen J., Xiong J. Rationally designed probiotics prevent shrimp white feces syndrome via the probiotics–gut microbiome–immunity axis. npj Biofilms Microbiomes 2024;10:40 DOI 10.1038/s41522-024-00509-5. Toàn văn mở, CC BY.
- Sha H., Chen J., He J. và cs. Precisely designed keystone metabolites boost shrimp disease resistance by recruiting symbionts via the lipoxin A4-AP-1 pathway. Microbiome 2026;14:168 DOI 10.1186/s40168-026-02418-5. Toàn văn mở, CC BY-NC-ND.
- Imran S., Junejo Y., Ahmad H.I., Ozaslan M., Safdar M. From dysbiosis to resilience: Microbiome engineering for sustainable shrimp aquaculture. Comp Biochem Physiol Part D 2026;61:102024 DOI 10.1016/j.cbd.2026.102024.
- Wang Y., Zhang J., Zhou J.Y. và cs. Pathological evidence links white feces syndrome in farmed Penaeus vannamei to severe hepatopancreatic Ecytonucleospora hepatopenaei infection in China. J Invertebr Pathol 2026;220:108770 DOI 10.1016/j.jip.2026.108770.
- Amin M. và cs. Gut microbiota and functional metabolic predictions in white feces disease-infected Pacific white shrimp, Penaeus vannamei, from Indonesian farms. Fish Shellfish Immunol 2025;158:110171 DOI 10.1016/j.fsi.2025.110171.
Bài viết là bản tổng hợp và diễn giải bằng tiếng Việt của Thần Vương; số liệu lấy từ bài gốc (toàn văn hoặc bản tóm tắt), hình do Thần Vương vẽ lại từ số liệu, không sao chép hình và bảng của bài gốc. Phần "Bà con cần biết" và "Ngoài thực tế" là ý kiến biên tập.



