01 / LOÀI NUÔI MỚI
Vì sao cá chim được chọn
Ấn Độ đứng thứ hai thế giới về nuôi trồng thủy sản và dẫn đầu về nuôi tôm nước lợ, nhưng nghề nuôi biển còn rất nhỏ: tiềm năng ước 4–8 triệu tấn mỗi năm, trong khi sản lượng hiện chưa tới 0,1 triệu tấn. Các viện nghiên cứu nhà nước đã cho sinh sản nhân tạo hơn chục loài cá biển và cá nước lợ; sáu loài được đưa ra nuôi: cá chẽm, cá Etroplus suratensis (pearl spot), cá bớp, cá mú chấm cam, cá chim vây vàng (Trachinotus blochii) và cá chim Ấn Độ (Trachinotus mookalee).
Theo nhóm tác giả, cá chim Ấn Độ có nhiều điểm thuận lợi cho người nuôi:
- dễ cho sinh sản, thích nghi với nhiều hệ thống nuôi, lớn ở mức khá và ít ăn thịt lẫn nhau;
- ăn ngay thức ăn viên công nghiệp;
- nuôi được ở độ mặn 5–35‰, nuôi ghép được với tôm thẻ, cá đối và cá măng;
- hình thức đẹp, thịt ngon, được thị trường trong nước và xuất khẩu ưa chuộng.
“Cá chim Ấn Độ là một trong những loài cá biển đang nổi lên nhanh nhất cho nuôi biển và nuôi ven bờ.”
Nhóm tác giả ICAR-CMFRI · Bản dịch
Trung tâm Visakhapatnam của viện CMFRI cho cá sinh sản nhân tạo thành công năm 2016. Sau đó quy trình nuôi lồng biển, lồng ven bờ và ao đất được thử nghiệm, chuẩn hóa và trình diễn trên diện rộng. Giai đoạn ương giống tỏ ra phù hợp với hệ thống nuôi tuần hoàn (RAS).

02 / BỐN MÔ HÌNH
Mật độ, thời gian nuôi và cỡ thu hoạch
Bài báo tổng kết bốn cách nuôi đã được thử nghiệm và trình diễn. Số liệu dưới đây là của cá chim Ấn Độ, nuôi trong điều kiện Ấn Độ:

- Lồng biển: khung nhựa HDPE đường kính 6 m, sâu 4 m (khoảng 110 m³). Thả cá giống khoảng 20 g, mật độ 25 con/m³; sau khoảng 10 tháng cá đạt 750–900 g. FCR 1,8–2,2; sức chứa tối đa 15–18 kg/m³. Viện đang thử lồng đường kính 15 m.
- Lồng ven bờ (đầm, phá, vùng nước lợ): lồng ống sắt mạ kẽm 5 × 5 m, lưới sâu 3 m (khoảng 75 m³). Thả cá 15–20 g, 20 con/m³; 7 tháng đạt 650–700 g. Thức ăn viên nổi 40–45% đạm, 10% béo; FCR 1,7–1,9. Mỗi vụ chỉ nuôi tối đa 7–8 tháng vì mùa mưa gió. Hơn 300 lồng đã được trình diễn.
- Ao đất ven biển: thả cá 10 g, 1,5 con/m²; 11–12 tháng đạt 850–1.000 g, năng suất tối đa 8,5–9 tấn/ha. Mô hình đã nhân rộng khoảng 100 ha ở nhiều bang.
- Luân canh cá chim – tôm: thả cá đã ương 30–35 g, nuôi 5–6 tháng thu cỡ 500 g, sau đó nuôi tôm trong cùng ao. Thức ăn 40–45% đạm, 10% béo; FCR 1,5–1,8, có thể thấp hơn khi ao giàu thức ăn tự nhiên. Người nuôi chọn cách này để bớt phụ thuộc vào một vụ tôm.

Hiệu quả kinh tế (quy đổi theo tỷ giá trong bài, 1 USD = 85 rupee): cụm 10 lồng biển lãi ước 1,7–2 triệu rupee mỗi năm (khoảng 20.000–23.500 USD); lồng ven bờ lãi 70.000–85.000 rupee mỗi lồng (khoảng 820–1.000 USD); luân canh với tôm lãi trung bình 100 rupee mỗi kg cá (khoảng 1,2 USD). Nhóm tác giả lưu ý lãi phụ thuộc vào giá thức ăn, FCR và giá bán tại ao.
“Việc thiếu con giống là nút thắt cho khả năng mở rộng của loài này.”
Nhóm tác giả ICAR-CMFRI · Bản dịch
03 / GÓC NHÌN THẦN VƯƠNG
Áp dụng cho bè, ao cá chim ở Việt Nam
Số liệu trong bài là của cá chim Ấn Độ ở điều kiện Ấn Độ. Cá chim vây vàng nuôi ở nước ta cùng chi Trachinotus nên cách nuôi tương tự, nhưng tốc độ lớn và FCR thực tế sẽ khác theo con giống, thức ăn và vùng nuôi. Vài điểm bà con có thể rút ra:
- Con giống: chọn giống đồng cỡ, đã quen thức ăn viên; ương đủ lớn trước khi ra lồng (bài gốc thả lồng từ 15–20 g, thả ao luân canh từ 30–35 g).
- Mật độ theo sức chứa: tính trước sinh khối lúc thu hoạch; lồng quá tải thì cá chậm lớn, dễ bệnh và tốn thức ăn.
- Theo dõi FCR: cân mẫu định kỳ, ghi lượng ăn từng lồng, từng ao; thức ăn viên nổi giúp nhìn rõ cá ăn, giảm thức ăn thừa.
- Lịch nuôi tránh mùa mưa bão: như lồng ven bờ ở Ấn Độ chỉ nuôi 7–8 tháng vì gió mùa; gia cố neo lồng trước mùa bão.
- Môi trường và sức đề kháng: giữ lưới lồng, đáy ao sạch; tăng sức đề kháng cho cá khi thời tiết thay đổi. Xem giải pháp nuôi cá chim và sản phẩm cho cá.



