Bài kỹ thuật

Lưu ý khi sử dụng sầu đâu trong hệ thống biofloc

Từ nghiên cứu trên cho thấy nuôi tôm theo công nghệ biofloc có thể hạn chế bệnh do Vibrio spp nhất là vi khuẩn phát quang Vibrio harveyi. Và việc sử dụng chiết xuất từ cây sầu đâu trong hệ thống Biofloc.

Quy trìnhTôm21 tháng 1, 2019👁 48 lượt xem
Bấm để nghe tóm tắt bằng giọng đọc AI (1.2×)
Tóm tắt AI

Tạo bản tóm tắt tiếng Việt cho Lưu ý khi sử dụng sầu đâu trong hệ thống biofloc

Tóm tắt được tạo bởi AI dựa trên nội dung bài viết phía dưới.

Góc biên tập

Vì sao bài này đáng đọc

  • Trọng tâm kỹ thuật chính: Gut Health, Immunity & Microbiome.
  • Bài viết phù hợp để rà soát nhanh cho nhóm tôm khi cần định hướng xử lý thực địa.
  • Nên đọc kèm sản phẩm liên quan và trao đổi với đội kỹ thuật khi ca nuôi cần protocol cụ thể.
Nội dung bài viết

sd_1

Ảnh: Internet

Nghiên cứu mới đây đã so sánh hiệu quả của hệ thống biofloc có bổ sung cây sầu đâu (Azadirachta indica) và hệ thống biofloc không bổ sung trong việc kiểm soát vi khuẩn phát quang trên tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannaemei.

Sự gia tăng nhanh chóng của các mầm bệnh khác nhau trên tôm nuôi dẫn đến thiệt hại sản xuất nghiêm trọng ở nhiều nước nhiệt đới. Vibrio spp thường được coi là mầm bệnh cơ hội trong nuôi tôm. Vi khuẩn phát sáng (LB), đặc biệt là Vibrio harveyi và đôi khi các loài phát sáng khác đã được công nhận như một mầm bệnh tàn phá với ấu trùng tôm he (penaeid) và tôm thẻ chân trắng trưởng thành ở khắp Đông Nam Á, Úc và Ấn Độ. Bệnh do vi khuẩn phát quang được báo cáo gây ra tỷ lệ chết lớn nhất là trong các trại sản xuất giống tôm. Sự phát sáng của vi khuẩn Vibrio harveyi là kết quả của một hóa chất phản ứng trong đó năng lượng hóa học được chuyển đổi thành năng lượng ánh sáng (Azizunnisa và Sreeramulu, 2013). Chúng có mặt khắp nơi trong môi trường biển (Nealson và Hastings, 1991) và một phần của hệ vi khuẩn trong ruột tôm (Abraham et al., 1998).

Những nghiên cứu trước đây cho thấy các yếu tố độc lực như nội độc tố, exotoxin, haemolysin, chitinase, lecithinase (Liu và cộng sự, 1996; Montero và Austin, 1999), độ mặn thấp (Prayitno và Latchford, 1995), R-plasmid (Aoki, 1992), được biết là có ảnh hưởng đến sự lây nhiễm của vi khuẩn Vibrio spp. và các mầm bệnh vi khuẩn khác.

Trong thập kỷ qua, tôm thẻ chân trắng L. vannamei được nuôi trong các hệ thống thâm canh theo công nghệ bioflocs với sự trao đổi nước bằng không đã trở nên phổ biến do hiệu quả cũng như sự bền vững mà mô hình mang lại. Sử dụng công nghệ biofloc đặc trưng bởi vi khuẩn Bacillus spp. vì loài này chiếm ưu thế (Zhao et al., 2012). Quần thể Bacillus spp. có tính đối kháng với Vibrio spp (theo Pattukumar et al. 2010).

Trong nuôi trồng thủy sản, các phương pháp khác nhau đã được báo cáo để kiểm soát các chủng Vibrio spp. gây bệnh, bao gồm hóa chất, kháng sinh, chế phẩm sinh học, các chiết xuất thảo dược và tinh dầu tự nhiên. Trong đó chiết xuất của lá sầu đâu (aquaneem) được xem là kháng sinh tự nhiên và được sử dụng để giảm tác động của các mầm bệnh khác nhau ở các liều khác nhau. Các bộ phận khác nhau của cây sầu đâu (Azadirachta indica) có tiềm năng như là lá thuốc thảo dược hiệu quả chống lại bệnh trên cá và các mầm bệnh nuôi trồng thủy sản khác (Pandey và cộng sự, 2012; Murthy và Kiran, 2013; Kannappan và Krishnamoorth, 2013).

Sử dụng sầu đâu trong hệ thống Biofloc

sd_2

 Azadirachta indica. Ảnh: advantagenature

Nghiên cứu hiện tại được thiết kế để đánh giá tác động của hai môi trường biofloc có và không bổ sung sầu đâu đối với tác động làm giảm Vibrio spp phát quang có hại trong hệ thống ao nuôi tôm thẻ tự nhiên.

Tác động của hai hệ thống biofloc có và không có sầu đâu trong việc làm giảm sự phong phú của vi khuẩn phát quang và các vi khuẩn gây bệnh (Vibrio harveyi , V. parahaemolyticus , V . AlginolyticusV . Fisehri ) đã được đánh giá. Sự phát triển của vi khuẩn Bacillus cereusLactobacillus spp. đã được kiểm tra cả trong mùa hè và mùa thu ở ao tôm chân trắng (Litopenaeus vannaemei) tự nhiên tại Rasulpur (21.83 N, 87,86 E), Tây Bengal, Ấn Độ.

Kết quả                        

Các phản ứng của biofloc trong quá trình khử vi khuẩn của ao nuôi tôm rất đa dạng theo mùa; dữ dội hơn trong mùa hè. Sầu đâu sử dụng cho hệ thống biofloc nên thận trọng vì nó cũng làm giảm các vi khuẩn có lợi đặc biệt khi ở nhiệt độ thấp.

Kết quả của nghiên cứu này chỉ ra rằng hệ vi sinh vật dị dưỡng thấy rõ rệt hơn trong hệ thống biofloc so với quy trình nuôi cấy thông thường của Litopenaeus vannamei chỉ sử dụng thức ăn. Môi trường biofloc giàu carbon có hoặc không có chiết xuất sầu đâu ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ quần thể vi khuẩn dị dưỡng hiếu khí có tác dụng dễ thấy hơn trong mùa hè. Các nghiên cứu trước đó (Avnimelech, 1999, Shan và Obbard, 2001, Pérez-Rostro et al., 2014) cũng báo cáo rằng việc bổ sung nguồn carbon giúp tăng cường sự phong phú của vi khuẩn trong hệ thống nuôi cá và động vật có vỏ.

Biofloc phổ biến 2 chủng Bacillus cereusLactobacillus spp. giúp giảm vi khuẩn có hại trong ao nuôi tôm thẻ chân trắng. Và quần thể vi khuẩn có lợi đặc biệt là Lactobacillus spp. đã tác động tiêu cực đến quần thể vi khuẩn phát sáng và giúp giảm số lượng vi khuẩn phát sáng ở cả hai nhóm thử nghiệm rõ rệt hơn vào mùa hè.

Mặc dù, mật độ của Bacillus cereusLactobacillus spp. tăng đáng kể ở cả nhóm thử nghiệm, tuy nhiên ở nghiệm thức biofloc có bổ sung sầu đâu tác động tiêu cực đến các vi khuẩn có lợi này vì kích thước quần thể thấp hơn đáng kể được ghi nhận trong nước và trầm tích của ao tôm. Nên tránh sử dụng sầu đâu trong hệ thống biofloc trong lúc nhiệt độ thấp như mùa thu.

Từ nghiên cứu trên cho thấy nuôi tôm theo công nghệ biofloc có thể hạn chế bệnh do Vibrio spp nhất là vi khuẩn phát quang Vibrio harveyi. Và việc sử dụng chiết xuất từ cây sầu đâu trong hệ thống biofloc của nông dân nên thận trọng tùy theo mùa (có thể sử dụng vào mùa hè để phòng bệnh do vi khuẩn) nhưng hạn chế sử dụng vào mùa thu, đông khi nhiệt độ thấp vì nó có thể ức chế sự phát triển của các vi khuẩn có lợi như Lactobacillus spp.

(Amit Mandala, S.K. Das/ Aquaculture 492 (2018) 157–163)

Nguồn: Tép bạc

Sản phẩm liên quan

Các sản phẩm gắn với chủ đề này

Product reference for MAX 4000
shrimpThần Vương Blue

MAX 4000

Vi sinh đặc hiệu khử NO2

Product reference for PRO GUT
shrimpThần Vương Blue

PRO GUT

Hệ men tiêu hóa cao cấp chuyên dùng cho nuôi tôm ao bạt

Product reference for LALSEA BIOREM
allNguyên liệu

LALSEA BIOREM

Khử NH3, xử lý hữu cơ sinh học, hiệu quả ở độ mặn cao

Product reference for LALPACK PROBIO
allNguyên liệu

LALPACK PROBIO

Men vi sinh đa chủng, hỗ trợ tiêu hóa và cân bằng hệ vi sinh đường ruột

Đọc thêm

Các bài kỹ thuật liên quan

SỰ THAY ĐỔI CỦA HỆ VI SINH ĐƯỜNG RUỘT DO SỰ NÓNG LÊN TOÀN CẦU. ĐIỀU HÒA SỨC KHỎE VẬT CHỦ VÀ TÌNH TRẠNG BỆNH Ở ĐỘNG VẬT BIẾN NHIỆT
Góc nhìn nghiên cứuTômFebruary 28, 2026

SỰ THAY ĐỔI CỦA HỆ VI SINH ĐƯỜNG RUỘT DO SỰ NÓNG LÊN TOÀN CẦU. ĐIỀU HÒA SỨC KHỎE VẬT CHỦ VÀ TÌNH TRẠNG BỆNH Ở ĐỘNG VẬT BIẾN NHIỆT

Sự nóng lên toàn cầu làm thay đổi hệ vi sinh vật đường ruột của tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương bằng cách tái cấu trúc các kiểu đ[...]

Toàn cảnh thị trường tôm thế giới 2025 — Dữ liệu từ Shrimp Insights (Tháng 2/2026)
Bài kỹ thuậtTômApril 9, 2026

Toàn cảnh thị trường tôm thế giới 2025 — Dữ liệu từ Shrimp Insights (Tháng 2/2026)

Tổng hợp dữ liệu thương mại tôm toàn cầu năm 2025: Ecuador dẫn đầu xuất khẩu 1.39 triệu tấn (+15%), EU tăng nhập khẩu mạnh nhất (+21[...]

CÁ HỒI TRONG ĐIỀU KIỆN STRESS: CỦNG CỐ TUYẾN PHÒNG THỦ ĐẦU TIÊN
Tuyến giải phápTômFebruary 27, 2026

CÁ HỒI TRONG ĐIỀU KIỆN STRESS: CỦNG CỐ TUYẾN PHÒNG THỦ ĐẦU TIÊN

Khi ngành nuôi trồng ngày càng phát triển các chiến lược bảo vệ sức khỏe vật nuôi, dinh dưỡng chức năng đã trở thành yếu tố then chố[...]

Tư vấn kỹ thuật

Hỏi đáp nuôi tôm & thủy sản

🦐

Để mình tư vấn tốt hơn

Cho mình biết tên + SĐT, lần sau quay lại bạn không phải kể lại từ đầu — kỹ thuật sẽ nhớ ao của bạn.

  • 🔒 Chỉ kỹ thuật Thần Vương xem — không bán cho bên thứ 3
  • 📨 Không spam, không quảng cáo qua SMS
  • 💾 Lưu lịch sử chat trên thiết bị bạn — xoá bất cứ lúc nào