Trong một nghiên cứu mới, các nhà khoa học đã chỉ ra rằng các chất chiết xuất từ củ Riềng (Alpinia galanga Linn.) có khả năng ức chế sự tăng trưởng của 8 loài vi khuẩn Vibrio spp., nhưng đặc biệt quan trọng nhất là đối với loài Vibrio parahaemolyticus gây bệnh EMS/AHPND trên tôm Thẻ chân trắng.

Ngoài những loài vi khuẩn Vibrio spp. gây bệnh phân trắng, thì sau quá trình phân lập tôm nhiễm bệnh còn phát hiện 6 loại nấm (Aspergillus flavus, A. ochraceus, A. japonicus, Penicillium sp., Fusarium spp., và Cladosporium cladosporioides). Trong nhiều năm qua, nhiều hộ nuôi đã sử dụng kháng sinh để điều trị bệnh phân trắng nhưng không mang lại hiệu quả tuyệt đối và dẫn đến tình trạng dư lượng kháng sinh trong tôm nuôi.
Một phương pháp nghiên cứu mới được thực hiện để thay thế kháng sinh hữu hiệu, kiểm soát được tác nhân gây bệnh cho tôm nuôi từ củ Riềng. Tinh chất được chiết xuất từ Galangal (Alpinia galanga Linn.), một loại thảo dược giúp ức chế sự phát triển của 8 loài Vibrio spp. tác nhân gây bệnh, điển hình là đối với vi khuẩn V. parahaemolyticus (EMS / AHPND).
Nghiên cứu được thử nghiệm như sau: có 3 nghiệm thức là đối chứng 0%, 2% và 4% tương đương hàm lượng chất chiết xuất từ Galangal bổ sung vào thức ăn. Chiết xuất Galangal được hòa tan trong ethanol với nồng độ 0,25 g/ml, sau đó được trộn với thức ăn ở mức đối chứng 0%; 2% (5 g/kg thức ăn) và 4% (10 g/kg thức ăn). Thức ăn được giữ ở nhiệt độ phòng trong 30 phút để dịch chiết thấm đều. Tiếp theo, thức ăn được áo bằng dầu mực ở mức 10 g/kg thức ăn để ngăn chặn sự phân tán của chiết xuất củ Riềng vào nước và để giảm mùi của chiết xuất. Các chế độ ăn thử nghiệm này đã được chuẩn bị cho tôm mỗi ngày với lượng cho ăn là 3,0% so với trọng lượng cơ thể tôm, cho ăn 3 lần/ngày trong thời gian nuôi thử nghiệm là 12 ngày. Tôm được bố trí có khối lượng 10,7 ± 0,8 g/con, 10 con/bể 90L nước. Các chỉ tiêu môi trường nước ở mức thích hợp cho môi trường sống cho tôm. Mầm bệnh là vi khuẩn V. parahaemolyticus được đưa trực tiếp vào cơ thể tôm với mật độ 2,85 ± 0,63 x 105 cfu/mL.
Sau 12 ngày thử nghiệm, cho thấy tổng lượng Vibrio spp. trong gan tụy và ruột của tôm thẻ L. vannamei ở chế độ cho ăn có bổ sung chất chiết xuất từ củ Riềng ít hơn đáng kể so với nhóm đối chứng (P <0,05) (Hình 1).

Hình 1. Tổng lượng vi khuẩn Vibrio spp. Trong gan tụy(A) và ruột (B) của tôm L. vannamei trong 3 nghiệm thức với chế độ cho ăn 0%, 2% và 4% chất chiết xuất từ củ Riềng sau 12 ngày nuôi (p < 0,05)
Tỷ lệ nhiễm nấm trong gan tụy và ruột của tôm thẻ L. vannamei bị nhiễm bệnh
khi cho ăn với chế độ cho ăn có bổ sung chiết xuất từ củ Riềng thấp hơn đáng kể so với nhóm chứng (P <0,05). Nấm được tìm thấy trong gan tụy và ruột của tôm thẻ chân trắng ở khoảng thời gian nuôi thử nghiệm từ 10 đến 12 ngày (Hình 2 (A) và (B)).

Hình 2. Tỷ lệ nhiễm nấm (%) trong gan tụy (A) và trong ruột (B) của tôm
L. vannamei nhiễm khuẩn trong 3 nghiệm thức với chế độ cho ăn 0%, 2% và 4% chiết xuất từ củ Riềng sau 12 ngày nuôi (p < 0,05)
Tỷ lệ sống của tôm với các nghiệm thức được cho ăn với hàm lượng chiết xuất Galangal 2% và 4% là 73,3 ± 5,8% và 83,3 ± 5,8%, tương ứng. Thấp nhất ở nghiệm thức đối chứng (0% chất chiết xuất củ Riềng) là 16,7 ± 5,8%. Hiệu quả rõ nhất cho tỷ lệ sống là ở nghiệm thức tôm cho ăn chất chiết xuất từ củ Riềng ở mức 4% cho tỷ lệ sống cao nhất.

Hình 3. Tỷ lệ sống của tôm sau 12 ngày nuôi thử nghiệm với lượng bổ sung chiết chất từ củ Riềng khác nhau (p <0,05)
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tôm thẻ chân trắng bị nhiễm bệnh được cho ăn với liều lượng 4% (10 g/kg thức ăn) chất chiết xuất từ củ Riềng (Alpinia Galanga Linn.) trong vòng 12 ngày cho ăn, tổng lượng vi khuẩn Vibrio spp. và tỷ lệ nhiễm nấm trong gan và ruột tôm là rất thấp, thấp hơn đáng kể so với nghiệm thức đối chứng (p < 0,05). Hơn nữa, tỷ lệ sống của tôm được cho ăn thức ăn có bổ sung chất chiết xuất từ củ Riềng với lượng 4% cao hơn đáng kể so với nghiệm thức đối chứng (p < 0,05), khi tôm được gây cảm nhiễm với vi khuẩn V. parahaemolyticus gây bệnh EMS/AHPND.
Như vậy, có thể kết luận rằng, chất chiết xuất từ củ Riềng có đặc tính kháng khuẩn, có khả năng sử dụng như là một loại thuốc kháng sinh chống lại tác nhân gây bệnh phân trắng và hoại tử gan tụy cấp trên tôm. Trong tương lai, loại thảo dược này có thể được dùng để thay thế cho các loại hóa dược sử dụng trong nuôi tôm công nghiệp, mang lại nguồn sản phẩm sạch và an toàn.
Tham khảo: Tidaporn Chaweepack, Boonyee Muenthaisong, Surachart Chaweepack & Kaeko Kamei, 2015. The Potential of Galangal (Alpinia galanga Linn.) Extract against the Pathogens that Cause White Feces Syndrome and Acute Hepatopancreatic Necrosis Disease (AHPND) in Pacific White Shrimp (Litopenaeus vannamei).
http://citeseerx.ist.psu.edu/viewdoc/download?doi=10.1.1.919.7944&rep=rep1&type=pdf





