Bài kỹ thuật

So sánh việc sử dụng tài nguyên trong nuôi tôm - phần 1: Đất

Năng suất tôm nuôi có thể tăng lên đáng kể mà không cần tăng thêm diện tích đất sản xuất cho các trang trại nuôi tôm

Quy trìnhTôm9 tháng 6, 2022👁 43 lượt xem
Bấm để nghe tóm tắt bằng giọng đọc AI (1.2×)
Tóm tắt AI

Tạo bản tóm tắt tiếng Việt cho So sánh việc sử dụng tài nguyên trong nuôi tôm - phần 1: Đất

Tóm tắt được tạo bởi AI dựa trên nội dung bài viết phía dưới.

Góc biên tập

Vì sao bài này đáng đọc

  • Trọng tâm kỹ thuật chính: Water & Environment.
  • Bài viết phù hợp để rà soát nhanh cho nhóm tôm khi cần định hướng xử lý thực địa.
  • Nên đọc kèm sản phẩm liên quan và trao đổi với đội kỹ thuật khi ca nuôi cần protocol cụ thể.
Nội dung bài viết
Solid1Trong ba phần đầu tiên này, Giáo sư Boyd thảo luận về việc sử dụng đất trong nuôi tôm ở năm quốc gia xuất khẩu tôm nuôi lớn - Ecuador, Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan và Việt Nam - và gợi ý rằng năng suất tôm có thể tăng lên rất nhiều mà không cần gia tăng thêm diện tích đất cho các trang trại nuôi tôm. Ảnh của Darryl Jory.

Sử dụng đất là một trong những vấn đề quan trọng nhất của bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Có một mối quan tâm 2 chiều giữa bảo tồn môi trường sống tự nhiên và có đủ đất canh tác để cung cấp nhu cầu sản xuất lương thực trong hiện tại và tương lai.

Lượng lương thực được sản xuất trên toàn cầu đã tăng hơn gấp ba lần kể từ năm 1950, nhưng dân số thế giới cũng tăng gấp ba lần. Lương thực bình quân đầu người ngày nay thực sự cao hơn một chút so với những năm 1950. Tuy nhiên, việc sử dụng đất cho nông nghiệp chỉ nhiều hơn khoảng 10% so với năm 1950. Khoảng 38% diện tích đất trên thế giới được sử dụng để sản xuất lương thực; do đó, nếu nông nghiệp không trở nên thâm canh hơn, sẽ không có đủ đất để cung cấp nhu cầu thực phẩm cho con người và gia súc của họ.

Sử dụng đất trong nuôi tôm

Dữ liệu được trình bày ở đây về việc sử dụng đất trong nuôi tôm được thu thập từ các cuộc khảo sát các trang trại nuôi tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương (Litopenaeus vannamei) ở năm quốc gia xuất khẩu tôm nuôi chính. Số lượng trang trại bao gồm: 101 trang trại ở Ecuador; 89 ở Ấn Độ; 1,341 ở Indonesia; 34 ở Thái Lan; và 30 tại Việt Nam.

 Nuôi tôm cần có đất để xây dựng và vận hành các trang trại. Đất cần thiết cho các trang trại thường từ 1,2 đến 2,2 lần diện tích mặt nước của các ao sản xuất. Trong cuộc khảo sát, tỷ lệ trung bình của đất trên diện tích mặt nước (LWR) dao động từ 1,22 ở Ecuador đến 2,04 ở Thái Lan (Bảng 1). LWR trung bình của năm quốc gia xuất khẩu tôm hàng đầu là 1,67.

 

 

 

Diện tích (ha /trang trại)

 

 

 

 

 

         

 

   

Quốc gia

LWR

Ao nuôi

Hồ chứa

Kênh dẫn

 

Khu vực lắng

Kè và công trình khác

Ecuador

1.24

141

8.76

9.03

 

11.29

5.6

Ấn Độ

1.33

5.15

0.34

0.2

 

---

1.15

Indonesia

1.77

2.79

1.08

1.32

 

0.1

0.65

Thái Lan

2.04

6.84

3.6

0.34

 

0.86

2.31

Việt Nam

1.95

1.77

0.31

0.16

 

0.09

1.12

Bảng 1. Tỷ lệ diện tích trang trại trên diện tích ao sản xuất (LWR) và diện tích dành cho các cơ sở hạ tầng bằng đất khác nhau tại các trang trại nuôi tôm ở năm quốc gia xuất khẩu lớn.

 

Một chỉ số có ý nghĩa về việc sử dụng đất tại các trang trại là diện tích cần thiết cho mỗi tấn (MT) tôm được sản xuất mỗi năm. Việc sử dụng đất canh tác trực tiếp để nuôi tôm dao động từ 0,09 ha/tấn ở Indonesia đến 0,20 ha/tấn ở Ấn Độ (Bảng 2) với tỷ lệ bình quân là 0,15 ha / tấn.

 

Sản lượng (t/ha)

 

 

Sử dụng đất (ha/tấn tôm)

 

 

             

Quốc gia

Mỗi vụ

Mỗi năm

FCR

Trang trại

Thức ăn

Tổng cộng

Ecuador

1.96

7.03

1.32

0.18

0.27

0.46

Ấn Độ

3.45

6.67

1.48

0.2

0.3

0.5

Indonesia

10.01

19.81

1.41

0.09

0.28

0.37

Thái Lan

7.33

17.31

1.49

0.12

0.3

0.42

Việt Nam

5.59

10.92

1.36

0.18

0.27

0.45

Bảng 2. Sản lượng mỗi vụ và mỗi năm, FCR và sử dụng đất để sản xuất tôm ở năm quốc gia xuất khẩu tôm chính.

 

Giảm sử dụng đất trong nuôi tôm

Hai cách chính để giảm sử dụng đất cho sản xuất tôm là cải thiện hệ số FCR và thâm canh sản xuất trong ao. LWR cũng là một yếu tố, nhưng ở một số quốc gia, LWR thấp là kết quả của việc ít sử dụng các ao chứa và ao lắng.

Tiến sĩ Claude E. Boyd

Sản phẩm liên quan

Các sản phẩm gắn với chủ đề này

Product reference for MAX 4000
shrimpThần Vương Blue

MAX 4000

Vi sinh đặc hiệu khử NO2

Product reference for HERB GUARD
shrimpThần Vương Blue

HERB GUARD

Tăng cường chức năng gan, cải thiện màu sắc khối gan tụy

Product reference for PRO GUT
shrimpThần Vương Blue

PRO GUT

Hệ men tiêu hóa cao cấp chuyên dùng cho nuôi tôm ao bạt

Product reference for LALSEA BIOREM
allNguyên liệu

LALSEA BIOREM

Khử NH3, xử lý hữu cơ sinh học, hiệu quả ở độ mặn cao

Đọc thêm

Các bài kỹ thuật liên quan

SỰ THAY ĐỔI CỦA HỆ VI SINH ĐƯỜNG RUỘT DO SỰ NÓNG LÊN TOÀN CẦU. ĐIỀU HÒA SỨC KHỎE VẬT CHỦ VÀ TÌNH TRẠNG BỆNH Ở ĐỘNG VẬT BIẾN NHIỆT
Góc nhìn nghiên cứuTômFebruary 28, 2026

SỰ THAY ĐỔI CỦA HỆ VI SINH ĐƯỜNG RUỘT DO SỰ NÓNG LÊN TOÀN CẦU. ĐIỀU HÒA SỨC KHỎE VẬT CHỦ VÀ TÌNH TRẠNG BỆNH Ở ĐỘNG VẬT BIẾN NHIỆT

Sự nóng lên toàn cầu làm thay đổi hệ vi sinh vật đường ruột của tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương bằng cách tái cấu trúc các kiểu đ[...]

Toàn cảnh thị trường tôm thế giới 2025 — Dữ liệu từ Shrimp Insights (Tháng 2/2026)
Bài kỹ thuậtTômApril 9, 2026

Toàn cảnh thị trường tôm thế giới 2025 — Dữ liệu từ Shrimp Insights (Tháng 2/2026)

Tổng hợp dữ liệu thương mại tôm toàn cầu năm 2025: Ecuador dẫn đầu xuất khẩu 1.39 triệu tấn (+15%), EU tăng nhập khẩu mạnh nhất (+21[...]

CÁ HỒI TRONG ĐIỀU KIỆN STRESS: CỦNG CỐ TUYẾN PHÒNG THỦ ĐẦU TIÊN
Tuyến giải phápTômFebruary 27, 2026

CÁ HỒI TRONG ĐIỀU KIỆN STRESS: CỦNG CỐ TUYẾN PHÒNG THỦ ĐẦU TIÊN

Khi ngành nuôi trồng ngày càng phát triển các chiến lược bảo vệ sức khỏe vật nuôi, dinh dưỡng chức năng đã trở thành yếu tố then chố[...]

Tư vấn kỹ thuật

Hỏi đáp nuôi tôm & thủy sản

🦐

Để mình tư vấn tốt hơn

Cho mình biết tên + SĐT, lần sau quay lại bạn không phải kể lại từ đầu — kỹ thuật sẽ nhớ ao của bạn.

  • 🔒 Chỉ kỹ thuật Thần Vương xem — không bán cho bên thứ 3
  • 📨 Không spam, không quảng cáo qua SMS
  • 💾 Lưu lịch sử chat trên thiết bị bạn — xoá bất cứ lúc nào