Hiện nay tình trạng sử dụng kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản ngày càng tràn lan và bữa bãi. Mục đích của việc sử dụng kháng sinh trong nuôi tôm nhằm phòng và điều trị bệnh, một số ít thúc đẩy tăng trưởng. Tuy nhiên việc sử dụng kháng sinh nhiều dẫn đến tình trạng kháng kháng sinh. Nhiều vi khuẩn xuất hiện và phát triển cơ chế kháng bệnh với tốc độ nhanh hơn việc chúng ta tạo ra các hợp chất chống lại chúng. Ví dụ như việc sử dụng oxytetracilin dẫn đến tầng suất tăng vi sinh vật kháng lại nó. Hay các gen kháng Tetracycline đã được xác định ở mức cao trong nước của trang trại sử dụng kháng sinh.
Lựa chọn để thay thế kháng sinh bao gồm quản lý tốt về mặt thức ăn, các chỉ tiêu môi trường, rào chắn, bổ sung phụ gia vào thức ăn… Lựa chọn tôm giống đảm bảo tôm khỏe, sạch bệnh, nuôi ở mật độ thích hợp. Kết hợp bổ sung một số thành phần phụ gia vào trong quá trình nuôi như chất chống oxy hóa và chất ức chế nấm; enzyme tiêu hóa ngoại sinh; acid béo thiết yếu; MOS; thuốc kích thích miễn dịch; Nucleotide; acid hữu cơ và thay thế khoáng chất vô cơ bằng hữu cơ.
Chất chống oxy hóa và chất ức chế nấm: ao nuôi trồng thủy sản là môi trường nóng ẩm, thức ăn lại chứa các thành phần dễ gây ra độc tố nấm mốc như mycotoxin. Chúng không gây chết nhưng vật nuôi không phát triển tốt được. Gây suy giảm sức khỏe, giảm ăn, tỷ lệ tiêu hóa thấp kéo dài dẫn đến chết. Nên cần bổ sung chất chống oxy hóa và chất ức chế nấm trong quá trình nuôi.
Enzyme tiêu hóa ngoại sinh: thức ăn chứa nhiều thành phần như ngô, đậu nành, lúa mì, bột thịt, bột máu, nội tạng nên tôm cần enzyme để tiêu hóa thức ăn tốt hơn. Tiêu hóa tốt sẽ giúp tăng trưởng cao, chu kỳ nuôi ngắn và giảm được rủi ro về bệnh trong quá trình nuôi.
Acid béo thiết yếu là chất dinh dưỡng cần thiết cho tôm, có tác dụng chống viêm vết thương do ký sinh trùng gây ra, kích ứng trong đường tiêu hóa.
MOS-Mannan Oligo Saccharide được chiết xuất từ thành tế bào nấm men giúp kích thích hệ thống miễn dịch, ngưng kết mầm bệnh ngăn chặn sự xâm nhập của vi khuẩn có hại. Hấp thu chất dinh dưỡng và tăng trưởng tốt hơn.
Thuốc kích thích miễn dịch nhằm kích hoạt hệ thống miễn dịch của tôm.
Nucleotide là chất bán dinh dưỡng thiết yếu, góp phần xây dựng DNA và RNA. Tôm hoàn toàn phụ thuộc vào hệ thống miễn dịch bẩm sinh để chống nhiễm trùng gây bệnh. Số lựng tế bào máu giảm đáng kể trong khi nhiễm trùng hoặc thử thách với môi trường. Khi được bổ sung Nucleotide vào chế độ ăn giúp tôm tăng số lượng tế bào máu 100% ở tôm nhỏ và 30% đối với tôm lớn.
Acid hữu cơ: hoạt động như chất bảo quản bằng cách giảm độ pH của thức ăn giúp sử dụng tốt chất dinh dưỡng, và giảm sự hấp phụ của mầm bệnh. Ức chế sự tăng trưởng của vi khuẩn gây bệnh, đặc biệt là vi khuẩn gram âm. Củng cố hệ vi sinh vật đường ruột, cải thiện sức khỏe đường tiêu hóa.
Thay thế khoáng chất vô cơ bằng hữu cơ: Khoáng chất vô cơ không ổn định và có phản ứng với enzyme, vitamin, chất chống oxy hóa. Khoáng chất hữu cơ ổn định hơn nhiều giúp giảm ô nhiễm kim loại nặng, tăng hấp thu vào cơ thể tôm.
Ngoài ra còn một số chất góp phần thay thế kháng sinh như Probiotic, thuốc ức chế giao tiếp vi khuẩn (QS)…
Muốn phát triển nuôi tôm bền vững cần hạn chế sử dụng kháng sinh ở mức thấp nhất. Thay vào đó cần chọn con giống khỏe mạnh, sạch bệnh; đảm bảo môi trường chất lượng nước tốt; quản lý thức ăn tốt. Trong quá trình nuôi bổ sung một số phụ gia vào thức ăn nhằm nâng cao sức đề kháng, hệ miễn dịch tôm như chất chống oxy hóa và chất ức chế nấm; enzyme tiêu hóa ngoại sinh; acid béo thiết yếu; MOS; thuốc kích thích miễn dịch; nucleotide; acid hữu cơ; khoáng hữu cơ…
Nguồn: Joao Manoel C.Alves





