Trong sản xuất giống tôm chân trắng, nuôi vỗ là khâu quan trọng có tính quyết định đến hiệu quả sinh sản của đàn tôm bố mẹ (Vũ Văn In và cs., 2012). Tuổi và kích cỡ của tôm có ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng sinh sản của các loài tôm he (Motoh, 1981; Primavera, 1985; Menasveta et al., 1994; Cavalli et al., 1997; Crocos and Coman, 1997). Tôm chân trắng tự nhiên và tôm nuôi trong vùng nước lợ có độ tuổi thành thục 6 -7 tháng với kích cỡ thành thục >20 g/tôm đực và >28 g/tôm cái (FAO, 2006; Parnes et al., 2004). Tôm cỡ 30-45g có thể cho sinh sản nhân tạo (FAO, 2001; Han-Jin et al., 2011). Tuy nhiên, tiêu chuẩn về khối lượng tôm bố mẹ đưa ra trong các văn bản hướng dẫn kỹ thuật lại rất khác nhau như: 35 g/tôm đực và 40 g/tôm cái (Bộ Thủy sản, 2006); 40 g/tôm đực và 45 g/tôm cái (Wyban and Sweeney, 1991); 45 g/tôm đực và 50 g/tôm cái (Vũ Văn In và cs., 2012). Do vậy, việc nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi và kích cỡ đến khả năng sinh sản của tôm chân trắng bố mẹ sạch bệnh (SPF) sẽ là cơ sở khoa học cho việc xác định tuổi và kích cỡ tôm bố mẹ thích hợp đưa vào nuôi vỗ cho đẻ trong sản xuất giống tôm chân trắng.
Thí nghiệm:
Thí nghiệm đánh giá ảnh hưởng của kích cỡ ở các nhóm khối lượng: 35-39g; 40-44g; 45-49g; 50-55g và từ 60g trở lên (thí nghiệm 1) và thí nghiệm đánh giá ảnh hưởng của các độ tuổi khác nhau: 7; 8; 9; 10 và 11 tháng tuổi (thí nghiệm 2) đến khả năng sinh sản của tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei) bố mẹ sạch bệnh được thực hiện trong nhà trong bể composit 14m2 (nuôi vỗ) và 1m3 (cho đẻ và ương ấu trùng) trong điều kiện đảm bảo an toàn sinh học, nhiệt độ: 28-30oC, độ mặn: 28-30‰. Tôm được cho ăn 4 lần/ngày với thức ăn là 50% hồng trùng và 50% mực tươi. Thay nước 100%/ngày. Sau 30 ngày nuôi vỗ tiến hành cắt mắt cho đẻ.
Theo dõi một số yếu tố môi trường:
Nhiệt độ, pH, DO được đo 2 lần/ngày vào 6 giờ và 14 giờ, độ mặn được đo hàng tuần trong các bể nuôi vỗ, cho đẻ và ương ấu trùng.
Bảng 1. Biến động một số yếu tố môi trường trong các bể thí nghiệm

Ghi chú: Số liệu trong bảng là giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn
Kết quả sinh sản của tôm chân trắng bố mẹ sạch bệnh ở các nhóm kích cỡ khác nhau:
Trong cùng một đàn tôm có độ tuổi 8-9 tháng, khả năng sinh sản của tôm chân trắng bố mẹ tỷ lệ thuận với cỡ tôm. Kết quả thử nghiệm tôm ở các nhóm kích cỡ khác nhau cho thấy nhóm tôm có khối lượng từ 45 g/con trở lên có tỷ lệ thành thục, tỷ lệ giao vĩ đẻ trứng, sức sinh sản và số lượng Nauplii/lần đẻ cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm tôm cỡ nhỏ hơn (Bảng 2; p < 0,05). Sức sinh sản và số lượng Nauplii/lần đẻ của tôm mẹ tỷ lệ thuận với khối lượng tôm mẹ, tuy nhiên ở nhóm khối lượng từ 45g trở lên sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Sự sai khác về tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở và tỷ lệ chuyển Z1 giữa các nghiệm thức là không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Bảng 2. Kết quả sinh sản của tôm chân trắng bố mẹ sạch bệnh ở các nhóm kích cỡ khác nhau

Ghi chú: Số liệu trong bảng là giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn, chữ cái khác nhau trong cùng một hàng chỉ sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)
Kết quả sinh sản của tôm chân trắng bố mẹ sạch bệnh ở các độ tuổi khác nhau:
Nhóm tôm 7 tháng tuổi có khả năng sinh sản thấp nhất với các tỷ lệ thành thục, tỷ lệ giao vĩ đẻ trứng, sức sinh sản, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ chuyển Z1 đều thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm tôm 8 tháng tuổi trở lên (p < 0,05). Số lượng Nauplii/lần đẻ là chỉ số đánh giá hiệu quả sinh sản của đàn tôm bố mẹ. Nhóm tôm 9 tháng tuổi cho số Nauplii/lần đẻ cao nhất (158.900 Nauplii) và thấp nhất là tôm 7 tháng tuổi (84.800 Nauplii; p < 0,05). Tôm 8 tháng tuổi có số lượng Nauplii/lần đẻ cao thứ 2 trong các công thức thí nghiệm (140.700 Nauplii/lần đẻ). Tuy nhiên, sự sai khác giữa số lượng Nauplii/lần đẻ của tôm 8 tháng tuổi so với tôm 10 tháng tuổi trở lên không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Bảng 3. Kết quả sinh sản của tôm thí nghiệm ở các độ tuổi khác nhau

Ghi chú: Số liệu trong bảng là giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn, chữ cái khác nhau trong cùng một hàng chỉ sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)
Kết luận:
Tuổi và kích cỡ của tôm chân trắng bố mẹ sạch bệnh SPF có ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của tôm. Nhóm tôm có khối lượng từ 45 g/con trở lên có khả năng sinh sản cao hơn so với nhóm tôm có khối lượng nhỏ hơn và độ tuổi từ 8 - 11 tháng tuổi là thích hợp nhất cho sinh sản của tôm chân trắng bố mẹ sạch bệnh SPF.
Nguồn: Tạp chí Khoa học và Phát triển





