Bệnh trên cá tra được cho là một trong những thách thức quan trọng của ngành nuôi trồng thủy sản. Ngoài những bệnh thường gặp nhất như: xuất huyết, mủ gan, trắng gan, trắng mang, trắng da, thối đuôi và vàng da…Gần đây, sưng bóng hơi trên cá tra xuất hiện với tần số cao, gây thiệt hại cho người nuôi. Mặc dù, có một số công trình nghiên cứu về bệnh trên bóng hơi cá như: cá chép với bệnh viêm bóng hơi (Markiewicz, 1966 trích dẫn bởi Roberts, 2000) và sự nhiễm nấm Phialophora spp. lên bóng hơi cá hồi Đại Tây Dương (Lumsden, 2006). Tuy nhiên, “trương bóng hơi” trên cá tra là một vấn đề mới mẻ. Ở Việt Nam, hiện chưa có công trình nghiên cứu về bệnh này cũng như phương pháp phòng trị.
Quan sát mẫu tươi dưới kính hiển vi, phân lập nấm trên môi trường GYA. Mẫu phân lập được ủ ở 280C từ 1- 4 ngày. Dựa trên đặc điểm hình thái khuẩn lạc, sợi nấm, cuống bào tử và bào tử. Kết quả phân lập được giống vi nấm Fusarium sp. trên cá bệnh và được định danh là loài Fusarium oxysporum và loài Fusarium subglutinans. Kết quả cũng khẳng định đây là tác nhân chính của bệnh.

Tuy nhiên trong môi trường thực tế nuôi với mật độ dày như hiện nay chúng ta lại không để ý đến động thái Oxy hòa tan trong môi trường nước, Oxy hòa tan trong nước chủ yếu là do khuếch tán từ không khí vào, đặc biệt là các thủy vực nước chảy. Sự hòa tan của oxy cũng tuân theo quy luật Henry và có thể được tính theo công thức sau đây:
Cs = Ks x P
Trong đó: Cs = sự hoà tan của khí
Ks = hiệu suất hoà tan
P = áp suất riêng phần của khí
Thí dụ, ở 300C và 1 atm (760mm Hg) hàm lượng oxy hòa tan = 26,1 mL/L x 0,209 = 5,5 mL/L hoặc = 5,5 mL/L x 1,4 = 7,7 mg/L (32.000mg/22.400 mL = 1,4). Phần trăm bão hòa của oxy trong nước phụ thuộc vào áp suất, nhiệt độ và nồng độ muối nhất định. Nước hòa tan nhiều hơn hay ít hơn nồng độ bão hòa được gọi là quá bão hòa hay dưới bão hòa. Hiện tượng oxy hòa tan quá bão hòa thường xảy ra do sự thay đổi nhiệt độ và áp suất. Oxy hòa tan trong nước còn do sự quang hợp của thực vật trong nước, quá trình này thường diễn ra mạnh trong các thủy vực nước tĩnh.
Trong nước hàm lượng oxy hòa tan có thể mất đi do quá trình hô hấp của thủy sinh vật hay quá trình oxy hóa vật chất hữu cơ trong nước và trong nền đáy ao.
Trong thủy vực nước chảy hàm lượng oxy hòa tan thường ít khi vượt quá bão hòa. Trong khi đó, ở các thủy vực nước tĩnh thực vật quang hợp tạo ra oxy lớn hơn gấp nhiều lần so với quá trình hô hấp của thủy sinh vật, do đó hàm lượng oxy hòa tan có thể vượt quá mức bão hòa trên 200%.
Sự gia tăng (quang hợp) và giảm hàm lượng oxy hòa tan (hô hấp) trong ao cá giàu dinh dưỡng.Trong các ao nuôi thủy sản hàm lượng oxy có sự biến động lớn theo ngày đêm, mức độ biến động phụ thuộc vào mức độ dinh dưỡng và sự phát triển của thực vật. Trong ao nuôi nghèo dinh dưỡng, thực vật kém phát triển nên biên độ dao động của oxy nhỏ.
Trong ao giàu dinh dưỡng thực vật phát triển mạnh vào ban ngày chúng quang hợp làm hàm lượng oxy hòa tan tăng cao vượt quá mức bão hòa và đạt mức cao nhất vào khoảng 14:00-16:00 giờ. Ngược lại, ban đêm quá trình hô hấp của thủy sinh vật tiêu thụ nhiều oxy làm hàm lượng oxy hòa tan giảm dần và đạt mức thấp nhất vào sáng sớm. Những ao quá giàu dinh dưỡng, hàm lượng oxy hòa tan vào sáng sớm có thể giảm đến mức 0 mg/L và đạt đến mức quá bão hòa 200% vào giữa trưa.
Những thay đổi ngày và đêm về hàm lượng oxy hòa tan (mg/l) trong ao nghèo dinh dưỡng (đường chấm), ao giàu dinh dưỡng (đường gạch) và ao quá giàu dinh dưỡng (đường liền)Trong một ao nuôi thủy sản hàm lượng dinh dưỡng và mật độ thực vật phù du có khuynh hướng tăng dần vào cuối vụ nuôi, do đó sự biến động hàm lương oxy hòa tan theo ngày đêm cũng tăng dần. Đầu vụ nuôi, hàm lượng dinh dưỡng và mật độ thực vật
phù du thấp nên hàm lượng oxy hòa tan thường tháp hơn mức bão hòa và ít biến động. Càng về cuối vụ nuôi, thực vật phù du phát triển làm hàm lượng oxy hòa tan biến động mạnh, khi thực vật phù du phát triển quá mức thì hàm lượng oxy hòa tan lúc thấp nhất (sáng sớm) sẽ thấp hơn nhu cầu của cá, cần phải có biện pháp khắc phục.
Mối quan hệ giữa sự phát triển của thực vật và hàm lượng oxy hòa tan trong chu kỳ nuôi cáOxy là chất khí quan trọng nhất trong số các chất khí hòa tan trong môi trường nước. Nó rất cần đối với đời sống sinh vật đặc biệt đối với thủy sinh vật, vì hệ số khuếch tán của oxy trong nước nhỏ hơn rất nhiều so với trong không khí. Theo Krogh (1919) (trích dẫn bởi Boyd, 1990) thì hệ số khuếch tán của oxy trong không khí là 11 còn trong nước chỉ là 34.10-6. Do đó, dễ đưa đến hiện tượng thiếu oxy cục bộ trong thủy vực. Hơn nữa, trong thủy quyển oxy hòa tan chỉ chiếm 3,4% thể tích, còn trong khí quyển nó chiếm tới 20,98% thể tích.
Dó đó nồng độ oxy hòa tan trong nước lý tưởng cho tôm, cá là trên 5 ppm. Tuy nhiên, nếu hàm lượng oxy hòa tan vượt quá mức độ bão hòa cá sẽ bị bệnh bọt khí trong máu và bóng hơi làm đứt khúc hoặc tắt nghẽn các mạch máu dẫn đến não, tim và các mô trên cơ thể cá đưa đến sự trương to của bóng hơi và các mạch máu gây xuất huyết ở các vây và hậu môn. Phân tích này cũng khẳng định đây cũng là tác nhân chính của bệnh.
Nguồn tổng hợp Internet Người viết Minh Đức




