202 dòng vi khuẩn sinh acid lactic (LAB) được phân lập từ ống tiếu hóa của các cá thể tôm nuôi và tôm thiên nhiên, bao gồm các loài
. Các dòng vi khuẩn này được thử thách để xác định tính kháng khuẩn đối với
Kết quả cho thấy các dòng khuẩn lactic đều có khả năng kháng mạnh mẽ đối với V.harveyi. Hoạt lực cao nhất thuộc về chủng
bị khử hoàn toàn sau 24 giờ, cả trong điều kiện hiếu khí và kị khí. Thì nghiệm cũng so sánh tỷ lệ sống, khả năng sinh trưởng của tôm nuôi trong điều kiện cho ăn và không cho ăn LAB trong vòng 6 tuần. Kết quả cho thấy hiệu quả đáng kinh ngạc của LAB : tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và hệ số thức ăn của nhóm bổ sung LAB vào khẩu phần ăn đều cao hơn rõ ràng so với nhóm đối chứng, đặc biệt là tỷ lệ sống (98.89% ở nhóm cho ăn LAB và 68.89% ở nhóm đối chứng). Và sau khi được cảm nhiễm
, sau 10 ngày thì nhóm tôm có bổ sung LAB đạt tỷ lệ sống 77% trong khi nhóm đối chứng chỉ đạt 67%.
được biết là một trong những loại vi khuẩn hiện diện trong hệ vi sinh bình thường của tôm thẻ ( chiếm 38-81% quần thể vi khuẩn).
là một trong những nguyên nhân gây bệnh nhiễm khuẩn trên tôm nuôi, xâm nhập trên nhiều vùng khác nhau như các bộ phụ, gan tụy, đường ruột,…
, gây bệnh phát sáng trên tôm thẻ giai đoạn hậu ấu trùng, và phát hiện gần đây cho thấy chúng còn gây bệnh đốm đỏ (bright-red syndrome – BRS) trên tôm thẻ chân trắng.
Sử dụng chế phẩm sinh học để nuôi tôm thâm canh là biện pháp hiệu quả để ngăn ngừa bệnh do
ficus , V . alginolyticus và V. harveyi
gây ra. Nhiều chế phẩm sinh học có
chứa Lactobacillus spp, Bacillus spp, Sacharomyces spp
, …và một số loại khác đã được chứng minh là có hiệu quả ức chế Vibrio trong nuôi tôm. Trong đó, LAB với khả năng sinh sản các chất kháng khuẩn bao gồm acid lactic, acid acetic, hydrogen peroxide và bacteriocin ức chế rất tốt các vi khuẩn cạnh tranh.
Trong nghiên cứu này, khả năng ức chế của LAB đến
được phân lập từ ống tiêu hóa của tôm nuôi và tôm thiên nhiên, và hiệu quả cacnhj tranh được đánh giá cả
(trên cơ thể tôm nuôi). Kết quả báo cáo về tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống, hệ số thức ăn cũng như mật độ của vi khuẩn trong ống tiêu hóa của tôm thẻ chân trắng.
được phân lập từ tôm bệnh và nuôi cấy trên môi trường TSB.
LAB được phân lập từ tôm nuôi thâm canh và cả tôm thiên nhiên, và được nuôi cấy trên môi trường MRS.
Để đánh giá khả năng áp chế V. harveyi, một chủng LAB là
trong 3 môi trường : TSB, MRS và hỗn hợp TSB-MRS. Theo dõi mật số của cả 2 loài sau 0, 12 18, 24 và 48 giờ.
Trong một thí nghiệm khác, tôm khỏe mạnh 30 ngày tuổi được thả vào trong các bể 500 lít với mật độ 30 con/bể. Tôm được cho ăn 4 lần 1 ngày, và 1 bể có bổ sung LAB vào tất cả các cử ăn trong vòng 6 tuần, mỗi lần cho ăn 2 – 4 x10
Và cuối cùng, đến cuối thử nghiệm cho ăn 6 tuần thì lại lấy từ các bể ra 20 cá thể để cảm nhiễm
= 5,7 – 6 log CFU/ml). Sau đó, lại chia mỗi cá thể thành 2 nhóm : cho ăn bổ sung LAB và nhóm đối chứng. Theo dõi tỷ lệ sống, hệ số thức ăn và tốc độ tăng trưởng của từng nhóm. Rút chiết dịch cở thể tôm để phân lập và xác định mật số của
Trong số 202 dòng LAB (124 phân lập từ tôm thiên nhiên và 78 từ tôm nuôi), thì chủng
được nhận thấy là có khả năng ức chế
Trong thí nghiệm nuôi cấy chung
ở môi trường hỗn hợp, sau 12 giờ thì L. plantarum bắt đầu sản xuất các hợp chất kháng khuẩn, sau 18 giờ thì bắt đầu có tác dụng chống lại V. harveyi và ức chế hoàn toàn chúng sau 24 giờ.
Còn trên thì nghiệm bổ sung LAB vào thức ăn, sau 6 tuần thì tốc độ tăng trưởng của nhóm có bổ sung LAB là cao hơn nhiều so với nhóm đối chứng (953% tăng trưởng so với 942%). Về khả năng tiêu thụ thức ăn cũng có khác biệt đáng kể : 0,42 ở nhóm bổ sung LAB và 0,45 ở nhóm đối chứng. Đặc biệt hơn là tỷ lệ sống , tôm nuôi được bổ sung LAB có tỷ lệ sống đến 98.89% trong khi nhóm đối chứng chỉ đạt 68,89%.
Với thí nghiệm cảm nhiễm tôm với V. harveyi (bằng cách tiêm và ngâm), thì tỷ lệ sống của nhóm bổ sung LAB và nhóm đối chứng lần lượt là 80% và 66,7% sau 9 giờ cảm nhiễm, giảm còn 63,3% và 43,3% sau 18 giờ cảm nhiễm. Tôm sau khi cảm nhiễm lại chai thành 2 nhóm, có bổ sung LAB và không bổ sung. Kết quả sau 10 ngày, thì tỷ lệ chết của nhóm không cho ăn LAB là 90%, trong khi nhóm bổ sung LAB để ức chế V. harveyi thì chỉ chết 37%.
Trong tự nhiên thì LAB không phải là loại vi khuẩn chiếm ưu thế trong ống tiêu hóa của tôm. Do đó, để có thể chống lại khả năng gây bệnh của Vibrio thì việc bổ sung vi khuẩn sinh lactic vào thức ăn cho tôm nuôi là điều rất đáng quan tâm. Không chỉ riêng
, các chủng Vibrio khác cũng bị ức chế sinh trưởng trong môi trường sống chưa nhiều LAB, được chứng minh qua các nghiên cứu khác, ví dụ như
đã được chứng minh lấn át mạnh mẽ
. Giải pháp này đã được chứng minh giúp tôm tăng tốc độ sinh trưởng, tăng khả năng miễn dịch và tăng khả năng tiêu hóa thức ăn trong khi vẫn đảm bảo an toàn sinh học.
